Đặt vấn đề, mục tiêu đề tải, phạm vi nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu, sơ lược cấu trúc luận văn. Chương 2: Cơ sở nghiên cứu. Đi vào trình bày một số khái niệm liên quan đến việc chăn nuôi bò sữa mà trong quá trình nghiên cứu có sử dụng. Chương 3: Tổng quan về địa bàn nghiên cứu.
Trình bày một cách sơ lược về tình hình tự nhiên, kinh tế xã hội của địa bàn nghiên cứu như: địa hình đất đai, khí hậu, thời tiết, dan số lao động. là cơ sở để phát triển chăn nuôi bò sữa ở đây. Chương 4: Nghiên cứu và thảo luận. | Đây là chương trọng tâm của đề tài, trình bày kết quả nghiên cứu của đề tài dia trên số liệu thu thập được, tiến hành phân tích, mô tả tình hình chăn nuôi bò sữa của người dân địa phương nơi đây, cũng như công tác khuyến nông, thú y và tình hình thu mua sữa của các công ty thu mua sữa.
Từ đó rút ra kết luận về tình hình chăn nuôi bò sữa nông hộ hiện nay trên địa bản xã. Chương 5: Kết luận và kiến nghị. Kết luận về thực trạng tình hình chăn nuôi bò sữa ở địa phương và đưa ra những kiến nghị cho người chăn nuôi, chó chính quyền địa phương để phát triển bền vững đàn bò sữa của địa phương hiện nay.————_——-ằ—=- CHƯƠNG 2 ‘CO SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CUU. Tầm quan trọng của chăn nuôi bò sữa Trong thời kỳ đổi mới, nền kinh tế của nước ta đã có nhiều chuyển biến tích cực, tăng trưởng GDP luôn ở mức cao so với thế giới.Trong cơ cấu của nền kinh tế thì ngành nông nghiệp vẫn chiếm tỷ trọng cao.
Ngành nông nghiệp có thể tự hào vì không những đáp ứng được nhu cầu lương thực trong cả nước mà còn đưa nước ta trở thành một nước xuất khâu gạo đứng hàng đầu thế giới. Trong ngành nông nghiệp, cơ cấu trồng trọt và chăn nuôi đã thay đổi bước đầu giảm tỷ trọng chồng trọt (77,6%) và tăng tỷ trọng chăn nuôi (22,5%), ngành chăn nuôi tăng số lượng và tỷ trọng gia súc nuôi lẫy thịt, sữa, giảm đàn gia súc cày kéo. Chăn nuôi bò sữa là một lĩnh vực đang được sự quan tâm đặc biệt trong ngành chăn nuôi. Đối với khu vực nông thôn đã có rất nhiều dự án lấy chăn nuôi bò sữa làm chiến lược phát triển nông thôn, góp phần xoá đói giảm nghèo, giải quyết công việc làm và nâng cao thu nhập cho người dân, đồng thời cung cấp nguyên liệu tại chỗ cho các nhà máy chế biến sữa.
Tuy nhiên chăn nuôi bò sữa ở nước ta đang ở trong giai đoạn đầu của quá trình phát triển. Hiện tại sức sản xuất sữa của đàn bò sữa trong nước mới chỉ đáp ứng khoảng 15% nhu cầu tiêu thụ của cả nước, 78% còn lại phải nhập nước ngoài. Khoa học và kỹ thuật để phục vụ cho việc chăn nuôi bò sữa còn hạn chế. Người chăn nuôi chưa hiểu biết nhiều về kỹ thuật chăn nuôi và quản lý bò sữa cũng như sự hạn chế về vốn đầu tư về trang thiết bị và kỹ thuật, cho việc tăng quy mô.
Vì vậy trong tương lai ngành cần có sự đầu tư quan tâm hơn nữa của các cấp chính quyền để ngành chăn nuôi bò sữa phát triển một cách bền vững, góp phần vào việc nâng cao thu nhập cho người dân, phát triển khu vực | nông thôn. Hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi bò sữa Khái niệm hiệu qua kinh tế: Hiệu quả kinh tế là một thuật ngữ dùng để chỉ mối quan hệ giữa kết quả thu được và chỉ phí bỏ ra. Tính phức tạp của đánh giá hiệu quả kinh tế đòi hỏi phải xem xét nhiều yếu tố, vừa phải dựa vào thực tế sản xuất hiện tại vừa phải dự báo tương lai. Ngoài ra còn phải tính đến lợi ích về mặt xã hội để hiệu quả đó thực sự có ý nghĩa.
Hiệu quả kinh tế là chỉ tiêu tổng hợp nhất về chất lượng sản xuất kinh doanh. Nó được giải thích thông qua “kết quả đạt được” so với “chỉ phí bỏ ra tương ứng” tạo nên kết quả đó. Cho nên vấn đề hiệu quả kinh tế của sản xuất, chăn nuôi bò sữa được xem xét cả hai mặt vừa định tính, vừa định lượng. Mặt định tính của hiệu qủa kinh tế của nghành chăn nuôi bò sữa cần phản ánh được năng lực giải quyết các nhiệm vụ kinh tế kinh tế xã hội cụ thể trong từng phương án sản xuất, về mặt định lượng thẻ hiện so sánh giữa các cặp yếu tố và chi phí.
Hệ thống các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế | Các chỉ tiêu biểu hiện hiệu quả kinh tế trực tiếp phản ánh mối tương quan giữa kết quả và chỉ phí tức là trực tiếp phản ánh mặt lượng của hiệu quả kinh tế sản xuất của chăn nuôi bò sữa: lợi nhuận, thu nhập, tỷ suất lợi nhuận, tỷ suất chỉ phi. Lợi nhuận = tổng doanh thu - tổng chỉ phí sản xuất Trong đó: Doanh thu là toàn bộ giá trị sản phẩm tiêu thụ trong một kỳ nhất định. Tổng chỉ phí sản xuất: Là toàn bộ chỉ phí bỏ ra trong kỳ sản xuất đó. Thu nhập = lợi nhuận + lao động nhà.
Chỉ phí lao động nhà là phần phần công lao động của gia đình được tính băng tiền tương ứng. e Tỷ suất lợi nhuận theo chỉ phí sản xuất. __IN Te *100% ~ CPSY Ý nghĩa: Cứ một đồng chi phi bỏ ra trong quá trình sản xuất thì thu được bao nhiéu déng lợi nhuận. e Tỷ suất thu nhập theo chi phí sản xuất.— TN *100% Ti=Gpsx Ý nghĩa: Công thức nay chỉ ra rằng cứ một đồng chỉ phí sản xuất bỏ ra trong quá trình sản xuất thi thu được bao nhiêu đồng thu nhập.
e Hiệu quả đồng chỉ phí. _ DT Hc *100% CPSX Ý nghĩa: Chỉ tiêu này có ý nghĩa cứ một đồng chỉ phí bỏ ra trong quá trình sản xuất thì thu được bao nhiêu đồng doanh thu. e Hiện giá thuần: NPV (net present value) chỉ tiêu này dùng để đánh giá hiệu quả đầu tư. Trong quá trình đầu tư sản xuất nhà đầu tư sẽ có khoản thu hàng kỳ (sau khi trừ đi chi phí và tính theo hiện giá).
Tổng chi phí này được gọi là hiện giá thu nhập thuần. Được tính theo công thức: vey BO mm (1+) Trong đó: ¿0t n: số kỳ dự án Bi: khoản thu trong ky i Ci: khoan chi trong ky i r: suất chiết khấu Hiệu quả đầu tư càng cao NPV càng lớn. Phương pháp nghiên cứu. Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp: Các số liệu thứ cấp được thu thập từ các phòng nông nghiệp của huyện, xã, các tổ chức hội nông dân của xã, ấp.
Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp: Đề tài tiến hành điều tra ngẫu nhiên phân tầng 45 hộ chăn nuôi bò sữa thuộc 7 ấp khác nhau thuộc địa bàn nghiên cứu. Phương pháp tính toán các chỉ số kinh tế (NPV, IRR, lợi nhuận, đoanh thu.) trên phần mềm Exel. CHƯƠNG 3 TONG QUAN 3. Đặc điểm tổng quan của địa bàn nghiên cứu.
Đông Thạnh là một xã thuần nông, đa số người đân sống bằng nghề nông, trồng trọt và chăn nuôi, diện tích tự nhiên 1272 ha, Đông Thạnh được chia lam 07 ấp, địa bản xã có 01 trạm y tế, 04 trường học, 03 trạm cấp nước. Xã có 02 con đường chính là Đặng Thúc Vịnh và Lê Văn Khương. Xã có 3 4p được công nhận là ấp văn hóa, ấp 03, ấp 06 và ấp 01. Toản xã hiện có 660 ha, 120 ha trồng hoa màu, có 4343 hộ với 19.
Về chăn nuôi có 4642 con bò trong đó có 2601 con đang vắt sữa, heo có 4.039 con trong đó heo nái có 349 con. điện tích ao nuôi cá 4.0000 mỶ trong đó những năm tới như nhận định của UBND xã và đảng bộ Đông Thạnh xác định cơ cầu nông nghiệp vẫn giữ vai trò quan trọng hàng đầu. Điều kiện tự nhiên: Vi trí dia lý: Xã Đông Thanh nằm ở phía phía đông bắc của huyện Hóc Môn, cách trung tâm huyện khoảng 3 km có ranh giới tiếp giáp với các xã sau: Hướng đông tiếp giáp với xã Thới Tam Thôn Hướng tây tiếp giáp với xã Nhị Bình Hướng nam tiếp giáp với xã Quận 12 Hướng bắc tiếp giáp với huyện Củ Chỉ : Dia hình và thé nhưỡng - Địa hình: phân bố thấp dần từ Đông Bắc đến Tây Nam, chia làm ba dạng chủ yếu phân bố cụ thể như sau: Bảng 1. Phân Loại Đất Trong Toàn Xã Chiêucao Diéntich Tỷ lệ Phân loại (m) (ha) (%) Vùng gò 8-10 120 9.2 Vùng bung tring <2 539 42.4 Téng céng 1272 100 Nguôn tin: Ban nông nghiệp xã Vùng gò cao có cao trình 8-10 m, diện tích 120ha (9.43%): Đặc điểm nên móng vững trắc, thoát nước tốt, thuận lơi cho việc sử dụng là đất thổ cư, các trung tâm hạ tầng kỹ thuật.
Vùng trién có chiều cao 7- 8 m, diện tích 613ha (48.2%) là vùng sử dụng làm nhà, chuyên canh rau màu, trồng lúa và trồng cỏ. Vùng bưng trũng có cao trình <2 m, diện tích 539 ha (42.4%) là vùng chủ yếu được sử dụng trồng lúa, các kênh rạch, sông ngòi. - Thổ nhưỡng: Thành phần thổ nhưỡng của xã Đông Thạnh được chia làm hai nhóm chính: nhóm đất sám chiếm 48.06%, nhóm đất phèn chiếm 36.7% còn lại là các nhóm đất khác 15. Khí hau và thuỷ văn + Khí hậu: > Nhiệt độ: Nhiệt độ tương đối cao, nhiệt độ trung bình hàng năm thường ở 30°C, tháng có nhiệt độ cao nhất là tháng 4 trung bình là 33°C, cao nhất là 37°C, tháng có nhiệt độ thấp nhất là tháng 12 trung bình 24°C thấp nhất là 20°C.
Biên độ nhiệt ngày và đêm các tháng mùa khô 8-10°C, các tháng mùa mưa từ 5-6°C. Điều kiện nhiệt độ này rất thuận lợi cho việc phát triển nông nghiệp. > Độ 4m không khí: Độ 4m tương đối của không khí trung bình các tháng mùa khô là 70%, các tháng mùa mưa là 85%. Độ 4m thấp nhất trong ngày 10 ———=-=¬+t8=:— = ” ————— vào lúc 13 giờ, các tháng mùa khô thì độ dm trung bình lúc này khoảng 43%.
Độ âm cao nhất vào khoảng từ 1-7 giờ sáng (khoảng 83%). > Lượng mưa: Lượng mưa trung bình từ 1500 - 1800 mm, mùa mưa bắt đầu vào tháng 5 và kết thúc vào tháng 11, mưa nhiều nhưng phân bố không đều, có khoảng 80% lượng mưa tập trung vào các tháng 6-9 (250- 310mm/tháng). Những tháng này có lượng mưa bình quân/ ngày rất lớn (70-130), mưa rào đến nhanh và kết thúc cũng nhanh, thường kéo dài 1-3 giờ. Với cường độ mưa lớn trong thời gian ngắn như vậy dễ gây ra xói lở và ngập ung bởi vậy cần phải chú ý đến các biện pháp chống xói mòn và chống úng.