Chương 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP 1. Các khái niệm Nông nghiệp Hiểu theo nghĩa hẹp: nông nghiệp là ngành sản xuất ra của cải vật chất mà con người phải dựa vào quy luật sinh trưởng của cây trồng, vật nuôi để tạo ra sản phẩm như lương thực, thực phẩm, … và các dịch vụ nông nghiệp. Nông nghiệp theo nghĩa rộng bao gồm cả ngư nghiệp và lâm nghiệp.
Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất xuất hiện sớm nhất của xã hội loài người và từ khi ra đời cho đến nay, nông nghiệp luôn đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển KT cũng như đảm bảo sự sinh tồn của loài người như Ănghen đã khẳng định: “nông nghiệp là ngành có ý nghĩa quyết định đối với toàn bộ thế giới cổ đại và hiện nay nông nghiệp lại càng có ý nghĩa như thế” (Nguyễn, Lê, & Nguyễn , 2014). Theo từ điển Bách khoa Việt Nam (tập 3 – 2003), “Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất cơ bản của xã hội, sử dụng đất đai để trồng trọt và chăn nuôi, khai thác cây trồng và vật nuôi làm tư liệu và nguyên liệu lao động chủ yếu để tạo ra lương thực, thực phẩm và một số nguyên liệu cho công nghiệp. Nông nghiệp là ngành sản xuất lớn bao gồm nhiều chuyên ngành trồng trọt, chăn nuôi, sơ chế nông sản; theo nghĩa rộng bao gồm cả lâm nghiệp và thủy sản” Ngày nay, nông nghiệp hiện đại vượt ra khỏi sản xuất nông nghiệp truyền thống, loại sản xuất nông nghiệp chủ yếu tạo ra lương thực cho con người hay làm thức ăn cho các con vật. Các sản phẩm nông nghiệp hiện đại ngày nay ngoài lương thực, thực phẩm truyền thống phục vụ cho con người còn các loại khác như: sợi dệt (sợi bông, sợi len, lụa, sợi lanh), chất đốt (mê tan, dầu sinh học, ethanol.), da thú, cây cảnh, sinh vật cảnh, chất hóa học (tinh bột, đường, 10 mì chính, cồn, nhựa thông), lai tạo giống, các chất gây nghiện cả hợp pháp và không hợp pháp như (thuốc lá, cocaine.
Thế kỷ 20 đã trải qua một sự thay đổi lớn trong sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là sự cơ giới hóa trong nông nghiệp và ngành sinh hóa trong nông nghiệp. Các sản phẩm sinh hóa nông nghiệp gồm các hóa chất để lai tạo, gây giống, các chất trừ sâu, diệt cỏ, diêt nấm, phân đạm. Tổ chức lãnh thổ nông nghiệp: Theo K. Ivanov (1974), tổ chức lãnh thổ nông nghiệp được hiểu là hệ thống liên kết không gian của các ngành, các xí nghiệp nông nghiệp và các lãnh thổ dựa trên các cơ sở quy trình kĩ thuật mới nhất, chuyên môn hóa, tập trung hóa và hợp tác hóa sản xuất, cho phép sử dụng hiệu quả nhất sự khác nhau theo lãnh thổ về điều kiện tự nhiên, KT, lao động và đảm bảo năng suất lao động xã hội cao nhất.
Vùng nông nghiệp: Có nhiều quan niệm về vùng nông nghiệp khác nhau và sự phân chia vùng nông nghiệp dựa trên các cơ sở về điều kiện tự nhiên, điều kiện KT xã hội khác nhau. Vùng nông nghiệp là những lãnh thổ sản xuất tương đối đồng nhất về các điều kiện tự nhiên, KT được phân chia với mục đích phân bố hợp lí và chuyên môn hóa đúng hướng các hoạt động sản xuất nông nghiệp trên cơ sở sử dụng đầy đủ và có hiệu quả nhất các điều kiện sản xuất của các vùng trong cả nước cũng như trong nội bộ từng vùng. Mặc dù một lãnh thổ được coi như đồng nhất về các điều kiện tự nhiên, KT - XH, song điều đó không có nghĩa là các điều kiện này tác động đến nông nghiệp hoàn toàn giống hệt nhau ở mọi nơi, mọi lúc. Trên thực tế, cơ cấu sản xuất của các xí nghiệp nông nghiệp được phân bố trong các vùng có điều kiện tự nhiên giống nhau nhưng có thể rất khác nhau.
Với các điều kiện như vậy, vùng nông nghiệp được coi như một lãnh thổ có sự lặp lại của các kiểu sản xuất tương đối giống nhau hoặc của các kiểu sản xuất khác nhau, nhưng liên quan mật thiết với nhau. 11 Tuy nhiên, ở một số vùng, ngoài các kiểu sản xuất đặc trưng có thể còn có cả một vài xí nghiệp khác không tiêu biểu cho vùng. Từ đó, có thể hiểu vùng nông nghiệp là một bộ phận lãnh thổ của đất nước có sự lặp đi lặp lại một cách có quy luật, sự kết hợp của các kiểu xí nghiệp nông nghiệp, trong đó đa số kiểu xí nghiệp đặc trưng cho vùng, còn một vài kiểu khác có thể không thể hiện bộ mặt của vùng. Phát triển nông nghiệp: Hiểu một cách chung nhất, phát triển nông nghiệp chính là tăng về quy mô giá trị sản xuất nông nghiệp; sự hoàn thiện về cơ cấu và sự nâng cao về hiệu quả KT - XH của sản xuất nông nghiệp.
Cơ cấu ngành nông nghiệp: là mối quan hệ tỷ lệ về số lượng và giá trị giữa các chuyên ngành, tiểu ngành bộ phận. Nói cách khác, cơ cấu ngành nông nghiệp phản ánh quan hệ tỷ lệ về giá trị sản lượng, quy mô sử dụng đất của các chuyên ngành, tiểu ngành cấu thành nên ngành nông nghiệp. Các chuyên ngành, tiểu ngành này được xem xét trên các quy mô: tổng thể nền KT, vùng và tiểu vùng. Cơ cấu ngành nông nghiệp thể hiện vị thế của từng chuyên ngành, tiểu ngành trong mối quan hệ với toàn ngành nông nghiệp (qua các tỷ lệ khác nhau tham gia vào ngành nông nghiệp) trong một thời gian nhất định.
Trong cơ cấu ngành nông nghiệp, các chuyên ngành, tiểu ngành có mối quan hệ mật thiết với nhau, hỗ trợ nhau phát triển trong phạm vi về không gian, thời gian và trên cơ sở điều kiện hạ tầng KT ở từng nơi. CDCC ngành nông nghiệp Cơ cấu ngành nông nghiệp là kết quả quá trình phát triển về số lượng, chất lượng ngành nông nghiệp trong khoảng thời gian nào đó, vì vậy nó không phải là các quan hệ tĩnh mà luôn luôn biến đổi không ngừng theo sự phát triển của các chuyên ngành, tiểu ngành tạo nên cơ cấu toàn ngành. Đó là sự thay đổi tất yếu về tỷ lệ giữa các chuyên ngành: trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp, thủy sản trên quy mô cả nước, trên các vùng KT - sinh thái; thay đổi về số lượng, loại hình quy mô các chủ thể tham gia sản xuất kinh doanh trong các chuyên ngành, 12 tiểu ngành ở các vùng sinh thái; sự thay đổi về mối quan hệ giữa nông nghiệp với các ngành KT khác như: công nghiệp và dịch vụ cung ứng đầu vào cho sản xuất nông nghiệp, công nghiệp chế biến nông sản và các hoạt động phân phối, tiêu thụ nông sản làm ra. Như vậy, sự thay đổi về quan hệ tỷ lệ giữa các chuyên ngành, tiểu ngành trong nông nghiệp là quá trình CDCC ngành nông nghiệp, phản ánh lợi thế và khả năng phát triển của các chuyên ngành, tiểu ngành trên tầm quốc gia, vùng và tiểu vùng.
Trong KT thị trường và sản xuất hàng hóa, sự thay đổi về tỷ lệ về quy mô, giá trị giữa các chuyên ngành, tiểu ngành của ngành nông nghiệp theo hướng tăng lên hoặc giảm xuống đều có mục đích đáp ứng cao nhất các yêu cầu của người tiêu dùng về hàng hóa lương thực, thực phẩm tươi sống và chế biến. Như vậy, CDCC ngành nông nghiệp chính là quá trình thích ứng của sản xuất nông nghiệp với thị trường tiêu thụ các sản phẩm do ngành nông nghiệp làm ra trong từng giai đoạn phát triển. Nói cách khác, kết quả CDCC nông nghiệp phản ánh mức độ thị trường hóa ở quy mô quốc gia, quốc tế của từng ngành trong từng giai đoạn, và là mục đích chung nhất trong phát triển nông nghiệp ở tất cả các quốc gia trên thế giới dưới tác động của CNH nền KT và toàn cầu hóa hội nhập. Sự thích ứng của cơ cấu ngành nông nghiệp với nhu cầu của thị trường ngày càng cao thì tính ổn định của cơ cấu ngày càng lớn.
Trong trường hợp ngược lại thì nông nghiệp rơi vào tình trạng không ổn định, phải giảm thiểu quy mô sản xuất và giá trị các chuyên ngành, tiểu ngành không có lợi thế hoặc không phù hợp với nhu cầu thị trường và tăng quy mô sản xuất, giá trị các ngành có lợi thế để đáp ứng nhu cầu thị trường trong và ngoài nước. Quá trình này diễn ra liên tục, thường xuyên theo sự thay đổi của thị trường. Như vậy, cách nhìn về CDCC ngành nông nghiệp là sự thay đổi về quan hệ tỷ lệ giữa các chuyên ngành, tiểu ngành của ngành nông nghiệp theo lợi thế so sánh và theo nhu cầu của thị trường tiêu thụ nhằm đưa cơ cấu ngành nông nghiệp từ trạng thái nhiều bất cập sang trang thái ít bất cập hơn so với nhu cầu 13 thị trường và phát triển được các chuyên ngành có lợi thế, giảm thiểu các chuyên ngành kém lợi thế trong nông nghiệp. Theo đó, khái niệm về CDCC ngành nông nghiệp trong điều kiện hiện nay như sau: “CDCC ngành nông nghiệp là quá trình thay đổi (tăng hoặc giảm) về quy mô, giá trị của các chuyên ngành sản xuất thuộc ngành nông nghiệp theo hướng thích ứng nhiều hơn với nhu cầu thị trường đồng thời phát huy được lợi thế so sánh của từng chuyên ngành, tạo ra cơ cấu ngành nông nghiệp mang tính ổn định cao hơn và phát triển bền vững hơn trong KT thị trường và hội nhập”.
Vai trò của sản xuất nông nghiệp đối với KT - XH Nông nghiệp, được hiểu là nông – lâm – thủy sản, là các ngành quan trọng trong sản xuất cũng như trong đời sống của con người. Về mặt lí luận, vai trò đó được thể hiện chủ yếu ở các điểm như sau: - Vai trò đáp ứng nhu cầu cần thiết về lương thực, thực phẩm cho đời sống và nguyên liệu cho công nghiệp. Con người tồn tại và phát triển cần phải có cái ăn và những sản phẩm đó chỉ có thể có được từ sản xuất nông nghiệp. Dù xã hội loài người có phát triển đến đâu đi chăng nữa thì không một ngành KT nào có thể thay thế được vai trò của các ngành nông nghiệp và thủy sản trong việc đáp ứng nhu cầu lương thực, thực phẩm cho con người.
Sự gia tăng dân số và sự thu hẹp diện tích (diện tích) đất canh tác đang đặt xã hội loài người trước nguy cơ thiếu hụt nguồn lương thực không còn là mối quan tâm riêng của từng quốc gia mà đã trở thành một thách thức lớn cho toàn nhân loại. Nông – lâm – thủy sản giữ vai trò to lớn trong việc phát triển KT ở hầu hết các nước, nhất là ở các nước đang phát triển.