MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Dải ven biển nằm trong số những hệ sinh thái quan trọng nhất trên trái đất. Những dải rừng đầm lầy vùng cửa sông, ven biển, các bãi triều, cung cấp dinh dưỡng cho môi trường nước, góp phần duy trì sức sản xuất của các thuỷ vực, cung cấp nhiều loại thuỷ sản và hải sản có giá trị cao cho con người. Môi trường sinh thái đất đai đa dạng vùng cửa sông, ven biển, đầm, hồ với nhiều nguồn nước mặn, lợ, ngọt khác nhau cho phép phát triển một nền nông nghiệp sinh thái năng động.
Bên cạnh những lợi thế về nhiều mặt, vùng đất ven biển cũng nhạy cảm với các hoạt động của con người và tác động của thiên nhiên. Dải ven biển Đồng bằng sông Hồng (ĐBSH) được phân chia bởi ranh giới của 11 huyện, thị xã, thành phố thuộc các tỉnh/thành phố là: Hải Phòng, Nam Định, Thái Bình và Ninh Bình, có diện tích tự nhiên 210.533 ha gắn liền với các hệ thống cảng biển và các cơ sở công nghiệp quan trọng. Vị trí địa lý của vùng thuận lợi cho phát triển nông nghiệp nói riêng và phát triển kinh tế - xã hội nói chung. Do trải dài từ: 19o53’ đến 21o34' vĩ độ Bắc nên có nhiều yếu tố và đặc điểm tự nhiên khác nhau đã chi phối, tác động tới quá trình phát triển nông nghiệp nói riêng và phát triển kinh tế xã hội nói chung.
Tuy nhiên, dải ven biển ĐBSH chưa thực sự được quan tâm nghiên cứu một cách đầy đủ, thường là những nghiên cứu đơn lẻ, không mang tính tổng thể nên việc khai thác sử dụng còn có nhiều hạn chế. Chính vì vậy, việc nghiên cứu: “Đánh giá tổng hợp điều kiện tự nhiên - kinh tế xã hội dải ven biển ĐBSH làm cơ sở cho phát triển nông nghiệp bền vững” là đòi hỏi hết sức cấp bách và có ý nghĩa rất lớn về kinh tế, xã hội và môi trường nhằm: - Đánh giá đươ ̣c đă ̣c điể m của dải ven biể n ĐBSH. - Đề xuất các giải pháp để sử dụng hơ ̣p lý dải ven biể n ĐBSH cho phát triển nông nghiệp bền vững. Mục đích của đề tài - Đánh giá các yếu tố tự nhiên, kinh tế, xã hội và môi trường có tác động tới sản xuất nông nghiệp ở dải ven biển ĐBSH.
Nguyễn Thị Thu Hà – K17 – Cao học Môi Trường 1 z Đánh giá tổng hợp điều kiện tự nhiên – kinh tế xã hội dải ven biển Đồng bằng sông Hồng làm cơ sở cho phát triển nông nghiệp bền vững - Nghiên cứu xác định các loại sử dụng đất, hiệu quả của các phương thức canh tác hiện có ở dải ven biển ĐBSH. - Đề xuất các giải pháp để phát triển nông nghiệp bền vững ở dải ven biển ĐBSH. Ý nghĩa về mặt lý luận và thực tiễn của đề tài 3. Ý nghĩa về lý luận của đề tài - Góp phần cụ thể hóa thực trạng khai thác, sử dụng hợp lý dải ven biển ĐBSH vào sản xuất nông nghiệp.
- Xây dựng cơ sở khoa học cho việc bố trí cơ cấu cây trồng, vật nuôi hợp lý ở dải ven biển ĐBSH. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài - Đánh giá thực trạng điều kiện tự nhiên, kinh tế và xã hội ở dải ven biển ĐBSH để khai thác, sử dụng bền vững vùng này. - Lựa chọn được cơ cấu cây trồng, vật nuôi hợp lý để phát triển nông nghiệp bền vững ở dải ven biển ĐBSH. Nguyễn Thị Thu Hà – K17 – Cao học Môi Trường 2 z Đánh giá tổng hợp điều kiện tự nhiên – kinh tế xã hội dải ven biển Đồng bằng sông Hồng làm cơ sở cho phát triển nông nghiệp bền vững CHƢƠNG 1 - TỔNG QUAN VỀ DẢI VEN BIỂN 1.
Các khái niệm cơ bản 1. Dải ven biển 1. Trên thế giới Theo các tài liệu nước ngoài, tương đương với thuật ngữ “dải ven biển” của Việt Nam, có các thuật ngữ sau: - Nga: vùng duyên hải - Pháp: vùng ven biển (littoral hoặc cote) - Anh: vùng ven biển (Coastal zone) - Trung Quốc: Vùng duyên hải hay vùng diên hải Tại hội thảo Khoa học Quốc gia: “Nghiên cứu và quản lý vùng ven biển” tháng 12 năm 1992, Giáo sư Joe Baker của Viện Khoa học Biển Australia đã dẫn ra một số định nghĩa về dải ven biển như sau: Thứ nhất: “Dải ven biển là độ dài đường bờ biển của đất nước” - “The lineal length of the country’s coastline”. Ông cho rằng định nghĩa này chưa thích đáng, vì nó không thể hiện được sự tương tác giữa biển và lục địa cũng như những biến đổi diễn ra do mối tương tác đó [25].
Tiếp đến ông lại dẫn ra định nghĩa khác: “Vùng ven biển là dải đất rộng 3km dọc đường bờ biển, bao gồm phần kéo dài của biển đến ranh giới ảnh hưởng của thủy triều vào trong đất liền”. Tuy định nghĩa này cũng đã đề cập đến tương tác biển - lục địa, thông qua tác động của thủy triều, song vẫn có những hạn chế, nhất là khi nghiên cứu những vấn đề liên quan đến sử dụng đất đai, thổ nhưỡng và các vấn đề về kinh tế - xã hội. của dải ven biển. Sau cùng ông đưa ra định nghĩa: “Vùng ven biển là vùng đất - biển kéo dài từ giới hạn phía trên của lưu vực các con sông, suối.
chảy vào biển, tới giới hạn của lục địa”. Với định nghĩa này thì vùng ven biển nước ta có phạm vi rất rộng và hầu như bao trùm toàn bộ lãnh thổ Việt Nam. Do đó, việc xác định nội dung nghiên cứu, trọng điểm nghiên cứu và quy hoạch phát triển vùng ven biển có nhiều khó khăn, không cụ thể và không sát với thực tế. Trong chương trình quản lý nguồn tài nguyên ven biển khu vực Đông Á, khi Nguyễn Thị Thu Hà – K17 – Cao học Môi Trường 3 z Đánh giá tổng hợp điều kiện tự nhiên – kinh tế xã hội dải ven biển Đồng bằng sông Hồng làm cơ sở cho phát triển nông nghiệp bền vững đề cập đến việc phân định ranh giới của dải ven biển, các nhà nghiên cứu của các nước ASEAN đã nhấn mạnh mối quan hệ giữa các vấn đề sinh thái nhân văn với các vấn đề địa kinh tế - xã hội trong việc phân định dải ven biển.
Với cách tiếp cận này, các nhà nghiên cứu cho rằng vùng ven biển là vùng kinh tế - xã hội và nhân văn có liên quan đến quá trình khai thác tài nguyên biển theo quan điểm phát triển bền vững phục vụ cho sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Malayxia và Phillippine thì xác định ranh giới tương đối của vùng ven biển là vùng nước sâu 50m trên biển đến nơi có hệ sinh thái nước lợ tồn tại (khoảng 10km) còn Bangladet lại xác định vùng ven biển từ đường đẳng sâu 100 m đến vùng nước lợ ở các cửa sông lúc triều lên, vào sâu trong lục địa khoảng 12 km .[25] Trong các nghiên cứu hỗ trợ cho lĩnh vực Môi trường ở Việt Nam, Tổ chức bảo tồn thiên nhiên quốc tế IUCN cũng rất quan tâm đến vùng ven biển và cho rằng “Việc xác định thế nào là vùng ven biển rất khó, song có thể nói đó là vùng tính sâu vào nội địa tới điểm ảnh hưởng của thủy triều lên các con sông, suối và các vùng đất ngập nước, hoặc tính sâu vào nội địa 10 km, tùy theo khoảng cách nào lớn hơn”. Cách hiểu này là tương đối phù hợp với hướng nghiên cứu những vấn đề về điều kiện tự nhiên và tài nguyên vùng ven biển. song đối với các nghiên cứu về dân cư, kinh tế - xã hội của lãnh thổ này lại gặp nhiều khó khăn trong việc thu thập và tính toán các số liệu thống kê [3].
Trong “Từ điển bách khoa các thuật ngữ Địa lý tự nhiên (bốn thứ tiếng Nga, Anh, Pháp, Đức), vùng ven biển được định nghĩa như sau: “Vùng ven biển là dải ranh giới giữa đất liền và biển, đặc trưng bởi sự có mặt phổ biến đặc trưng của các dạng địa hình bờ biển cổ và hiện đại. Ở dạng đầy đủ hơn, bao gồm khái niệm miền duyên hải - là dải lục địa có các thềm biển cổ, dải bờ - nơi có các dạng bờ hiện đại, và ven bờ biển là nơi có các dạng bờ cổ bị chìm ngập” [3]. Định nghĩa này trình bày khái niệm theo quan điểm địa mạo, địa lý tự nhiên. Cũng theo quan điểm này, một số tác giả khác sử dụng đường đẳng cao 25m làm ranh giới phía trong của vùng ven biển.
Thực tiễn nghiên cứu cho thấy, ở phạm vi rộng hơn thì cách xác định ranh giới vùng ven biển như trên là chưa bao quát được Nguyễn Thị Thu Hà – K17 – Cao học Môi Trường 4 z Đánh giá tổng hợp điều kiện tự nhiên – kinh tế xã hội dải ven biển Đồng bằng sông Hồng làm cơ sở cho phát triển nông nghiệp bền vững hết những đối tượng nghiên cứu mà các nhà khoa học và quản lý quan tâm, nhất là trong các lĩnh vực khoa học Địa lý kinh tế - xã hội, kinh tế học và nhân khẩu học. Phần lớn việc phân định ranh giới của dải ven biển dựa trên các căn cứ về tự nhiên. Riêng một số nghiên cứu về kinh tế - xã hội lại thiên về việc phân định theo ranh giới hành chính. Ở Việt Nam Trong báo cáo khoa học của Uỷ ban Quốc gia về biển của Việt Nam (IOC), GS.TSKH Đặng Ngọc Thanh, chủ nhiệm các Chương trình điều tra nghiên cứu biển của Việt Nam từ năm 1997 - 2000 đã đưa ra khái niệm vùng ven biển như sau: “ Vùng ven biển Việt Nam chạy dài trên 3200 km bờ biển của đất nước, bao gồm 24/50 tỉnh và thành phố, 100/400 huyện với số dân chiếm ¼ dân số cả nước.
Theo cách hiểu như trên thì vùng ven biển nước ta được xác định bởi ranh giới hành chính các huyện có bờ biển. Cách xác định này giúp cho việc thu thập tài liệu, số liệu phục vụ các nghiên cứu về kinh tế - xã hội và dân cư rất thuận lợi. Song cũng có những hạn chế, vì những hiện tượng và đối tượng nghiên cứu về tài nguyên thiên nhiên và điều kiện tự nhiên lại không bị hạn chế bởi ranh giới hành chính. Vì vậy, một số chuyên gia khác đã sử dụng giới hạn nhiễm mặn của đất và nước để làm ranh giới của vùng ven biển.
Trong đề tài: “Đánh giá kinh tế tổng hợp tài nguyên biển Việt Nam phục vụ quy hoạch phát triển kinh tế đến năm 2005” mã số 48B.