Chương 1. Các khái niệm cơ bản 1. Khái niệm chính sách Thuật ngữ chính sách được hiểu là: “Chu trương và các biện pháp của một đảng phải, một chính phủ trong các lĩnh vực chính trị - xã hội” ([22], t. Ở đây, chính sách được hiểu là sự thé hiện cụ thé của chủ trương và các biện pháp của các tô chức chính trị hoặc tổ chức Nhà nước (Chính phủ) trong các lĩnh vực chính trị - xã hội.
Bên cạnh cách hiểu theo trên, thuật ngữ chính sách còn có thé hiểu theo nghĩa rộng là: “Sdch lược và kế hoạch cụ thé nhằm đạt một mục đích nhất định, dựa vào đường lối chính trị chung và tình hình thực tế mà đề ra” ({18], t. Thuật ngữ này không chỉ bao hàm những chính sách, biện pháp cụ thé mà còn bao hàm các chủ trương lớn, đường lối hoặc phương hướng chiến lược của một quốc gia, thé hién quan điểm, thái độ ứng xử trong quá trình xử lý các vân đê trong nước và quôc tê. Khai niệm phát triển “Phát triển là vận động, tiến triển theo chiéu hướng tăng lên” ([22], t.1321) hoặc có thé hiểu theo cách khác là: “Biến đổi hoặc làm cho biến đổi từ ít đến nhiễu, hẹp đến rộng, thấp đến cao, đơn giản đến phức tap” ([18], t. Hầu hết các quốc gia ngày nay đều quan tâm đến phát triển.
Các nước kém phát triển, nghèo và trì tré hang thé ky, nay đã vùng lên đấu tranh chống lại nghèo đói, bệnh tật, dốt nát và ách thong tri cua những nước hùng mạnh hơn. Còn các quốc gia tiên tiến thì không ngừng chăm lo đến sự tăng trưởng nhanh và mạnh. Không phân biệt giàu nghèo, tiên tiến hay không tiên tiến, khẩu hiệu chung cho sự kỳ vọng của các quốc gia trên thế giới hiện nay là phát triển, tuy có sự khác nhau về nội dung ở từng nhóm nước khác nhau. Đối với một số nước thi phát triển có nghĩa là công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Trong khi đó một số nước lại cho rằng phát triển là việc giành được độc lập của quốc gia về chính trị và kinh tế. Một số nước khác hiểu phát triển như các cơ hội giáo dục, xây dựng các đê điêu, các tòa nhà chọc trời, v. Khái niệm nguồn nhân lực Nguồn nhân lực xã hội là lực lượng lao động (human labor), những năng lực về thé chất và trí tuệ dé sản xuất ra hàng hóa và dịch vụ cho kinh doanh hay còn có cách định nghĩa khác, là toàn bộ sé lượng người có thé làm việc khi cần thiết. Theo nghĩa rộng, nguồn nhân lực là tong thé các tiềm năng (lao động) của con người của một quốc gia, một vùng lãnh thổ, một dia phương đã được chuẩn bị ở mức độ nào đó có khả năng huy động vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước (hoặc một vùng, một địa phương cụ thê).
Với cách tiếp cận này, nguồn nhân lực như một bộ phận cấu thành các nguồn lực của quốc gia như nguồn lực vật chất (trừ con người), nguồn lực tài chính, nguồn lực trí tuệ (chất xám). Những nguồn lực này có thể được huy động một cách tối ưu dé phát triển kinh tế - xã hội. Nguồn nhân lực xã hội được nghiên cứu trên góc độ sỐ lượng và chất lượng. Số lượng nguồn nhân lực được biểu hiện thông qua các chỉ tiêu quy mô và tốc độ tăng nguồn nhân lực.
Chất lượng nguồn nhân lực được nghiên cứu trên các khía cạnh về sức khỏe, trình độ học vấn, trình độ chuyên môn nghiệp vụ, năng lực phẩm chat. Nguồn nhân lực cua xã hội thê hiện tiêm năng của một quôc gia về con người, kê cả những người hiện tại chưa có việc làm, thât nghiệp và trẻ em trong các trường học. Nguôn nhân lực của tô chức là một bộ phận câu thành nguôn nhân lực xã hội, bao gôm tât cả những ai làm việc cho tô chức hoặc những người chờ đợi dé làm việc cho tô chức (nguồn dự trit). Nguồn nhân lực của mỗi tổ chức có những đòi hỏi, yêu cầu riêng tùy theo chức năng, nhiệm vụ, tính chất công việc của tô chức đó.
Đây chính là lý do vì sao mỗi tô chức phải có chiến lược, kế hoạch phát trién, tạo nguồn nhân lực cho chính mình một cách hợp lý. Mặt khác, khi nguồn nhân lực xã hội có thé đáp ứng được yêu cầu của tô chức, thì tổ chức có thé sử dụng chúng. Cạnh 16 tranh dé có được nguồn nhân lực xã hội phù hợp với yêu cầu của tổ chức là xu thé chung của thế giới trong nhiều năm qua và tiếp tục thúc day cạnh tranh trong thời gian tới, dưới nhiều dạng khác nhau như: cạnh tranh nhân tài, cạnh tranh lao động có tay nghề cao, cạnh tranh lao động có chi phi rẻ,. Nhân lực khoa học và công nghệ 1.
Khái niệm nhân lực khoa học và công nghệ Theo nghĩa rộng, nhân lực khoa học và công nghệ bao gồm những người sở hữu trí thức, những người này tham gia trực tiếp trong việc nghiên cứu và phát triển khoa học cơ bản, công nghệ ứng dụng. Hàm lượng trí thức tích lũy trong nhân lực KH&CN có thể được thông qua đào tạo chính thức hoặc thông qua tích lãy kinh nghiệm và các công việc liên quan đến đôi mới. Có 2 cách tiếp cận phố biến về nhân lực khoa học va công nghệ: Thứ nhất, nhân lực KH&CN được mô tả trong cuốn số tay của OECD năm 1995 với tên gọi “OECD’s Canberra Manual” và đã được sử dụng phổ biến trong các quốc gia cũng như các tài liệu nghiên cứu. Theo đó, nhân lực KH&CN gồm những người đáp ứng được một trong những điều kiện sau đây (OECD, 1995: 49): - Đã tốt nghiệp đại học hoặc cao đẳng về một lĩnh vực KH&CN; - Tuy chưa đạt được điều kiện nêu trên, nhưng làm việc trong một lĩnh vực KH&CN đòi hỏi phải có trình độ tương đương.
Thứ hai, theo UNECO thì nhân lực KH&CN được xác định như “.tông số những người tham gia trực tiếp vào hoạt động KH&CN và các dịch vụ KH&CN trong một tổ chức hoặc một đơn vị. Nhóm này gom ca những nhà khoa hoc và kỹ sư, kỹ thuật viên và nhân lực hỗ trợ. Theo quan điểm của Bộ Khoa học và Công nghệ có 05 lực lượng làm khoa học và công nghệ: - Nhân lực KH&CN làm quản lý KH&CN. - Nhân lực KH&CN làm việc trong các tổ chức KH&CN: các viện nghiên cứu, trường đại học, trung tâm nghiên cứu KH&CN.
17 - Nhân lực KH&CN tại các doanh nghiệp. - Nhân lực KH&CN trong xã hội: là những người dân có sáng kiến cải tiến, có lòng yêu KH&CN và tìm các biện pháp áp dụng khoa học và kỹ thuật vào đời sông. - Nhân lực KH&CN là người Việt Nam đang công tác, sinh sống tại nước ngoài. Thuật ngữ “nhân lực KH&CN” hàm chỉ đội ngũ lao động có trình độ tay nghé trở lên.
Thuật ngữ này đôi khi tương đồng với thuật ngữ nhân lực KH&CN (scientific and technological manpower hay personnel). Tuy nhiên, có trường hợp quan niệm không tương đồng bởi có người quan niệm nhân lực KH&CN bao gồm đội ngũ có tay nghè hay trình độ đang hoạt động trong nền kinh tế. Còn nguồn nhân lực KH&CN thì còn có thêm lực lượng tiềm năng về tay nghé/trinh độ (UNESCO). Trong khi đó, OECD coi nguồn nhân lực KH&CN tương đồng với nhân lực KH&CN và bao gồm cả lực lượng hiện đang hoạt động cũng như ở dạng tiềm năng.
- Theo UNESCO, nhân lực KH&CN là “nhitng người trực tiếp tham gia vào hoạt động KH&CN trong một cơ quan, tổ chức và được trả lương hay thù lao cho lao động của họ, bao gom các nhà khoa hoc và kỹ sư, kỹ thuật viên và nhân lực phù trợ. Hoạt động KH&CN, theo UNESCO, là những hoạt động có tính chất hệ thống và liên quan chặt chẽ đến việc tạo ra, phát triển, phổ biến, áp dụng kiến thức KH&CN trong mọi lĩnh vực KH&CN. Hoạt động KH&CN bao gồm hoạt động nghiên cứu triển khai, giáo dục và đào tạo KH&CN và các dịch vụ KH&CN. Dịch vụ KH&CN bao gồm các hoạt động KH&CN của thư viện và bao tang, dich và hiệu đính tài liệu KH&CN; điều tra, thăm dò, thu thập số liệu về các hiện tượng kinh tế xã hội; tiêu chuẩn, chất lượng, dịch vụ tư van và lay ý kiến khách hàng, các hoạt động patent và bản quyên của các cơ quan công cộng.
Khái niệm về nhân lực KH&CN của UNESCO không bao hàm đội ngũ KH&CN dạng tiềm năng. Vì vậy, ngoài nhân lực KH&CN theo định nghĩa 18 trên, UNESCO còn thu thập hai nhóm số liệu khác, đó là “các kỹ sư và nhà khoa học tiềm năng” và “các kỹ thuật viên tiềm năng” là những người năm trong tổng vốn nhân lực hay những người thuộc lực lượng hoạt động kinh tế có bang cấp của nhà khoa học/kỹ sư/kỹ thuật viên. UNESCO định nghĩa nhân lực KH&CN không theo bằng cấp mà theo công việc hiện đang đảm nhận. OECD đưa ra định nghĩa về nhân lực dựa trên trình độ và công việc.
Theo OECD, nhân lực KH&CN bao gồm những người đáp ứng được một trong các điều kiện sau: Đã tốt nghiệp trường đảo tạo trình độ nhất định nào đó về một chuyên môn KH&CN (từ công nhân có bằng cấp tay nghề trở lên hay còn được gọi là trình độ 3 — giáo dục phổ thông bậc cao, trong hệ giáo dục đảo tạo). Không được đào tạo chính thức như đã nói ở trên nhưng làm một nghề trong lĩnh vực KH&CN mà đòi hỏi trình độ trên. Kỹ năng tay nghề ở đây được đào tạo tại nơi làm việc. Như vậy, theo OECD, nhân lực KH&CN là sự tổng hợp cả 2 tiêu chí bao gồm: - Những người có bằng trình độ tay nghề trở lên và làm việc trong lĩnh vực KH&CN; - Những người có bằng trình độ tay nghề trở lên và không làm việc trong lĩnh vực KH&CN; - Những người được coi là có trình độ tay nghề làm việc trong lĩnh vực KH&CN nhưng không có bằng cấp.
Ngoài ra, còn có những người làm việc trong lĩnh vực KH&CN với trình độ kỹ năng thấp, không ở mức ngang bằng với những người có trình độ tay nghề cũng được tính vào nguồn nhân lực KH&CN. 19 Như vậy, theo cách định nghĩa này, tất cả những ai có băng cấp nghề nghiệp trở lên bất ké họ có sử dụng kiến thức đã học vào nghề của mình hay không, hay kiến thức của họ có được bồ túc sau một thời gian dài hay không đều được coi là nguồn nhân lực KH&CN. Nhân lực KH&CN ở đây được hiểu theo nghĩa rất rộng, nó đề cập đến toàn bộ đội ngũ tiềm tàng/tiềm năng chứ không chỉ đội ngũ hay vốn nhân lực KH&CN đang tham gia hoạt động KH&CN.