CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ðỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC HÀNH CHÍNH 1. KHÁI QUÁT VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC 1. Một số khái niệm a. Nhân lực Nhân lực theo Phạm Minh Hạc [13], ñó là sức lực trong mỗi con người nằm trong mỗi con người và làm cho con người hoạt ñộng.
Sức lực ñó ngày càng phát triển cùng với sự phát triển cơ thể con người và ñến một mức ñộ nào ñó, con người ñủ ñiều kiện tham gia vào quá trình lao ñộng, con người có sức lao ñộng. Một khái niệm khác theo Nguyễn Vân ðiềm và Nguyễn Ngọc Quân, nhân lực là nguồn lực của mỗi con người, gồm thể lực và trí lực. Thể lực chỉ sức khoẻ thân thể, nó phụ thuộc vào tầm vóc, tình trạng sức khoẻ, mức sống, thu nhập, chế ñộ ăn uống, chế ñộ làm việc, nghỉ ngơi, chế ñộ y tế, tuổi tác, thời gian công tác, giới tính.của mỗi người. Trí lực chỉ khả năng suy nghĩ, sự hiểu biết, khả năng tiếp thu, tài năng, năng khiếu cũng như quan ñiểm, lòng tin, nhân cách.của mỗi người [12].
Theo Võ Xuân Tiến thì "Nhân lực chỉ sức người, bao hàm cả sức mạnh vật chất và sức mạnh tinh thần, cả ở mặt tài và mặt ñức" [26]. Sức mạnh vật chất ñược tạo ra thông qua hoạt ñộng lao ñộng của con người tác ñộng vào tự nhiên nhằm cải biến tự nhiên ñể phục vụ cho nhu cầu bản thân và xã hội, ñồng thời cải biến chính bản thân con người và các quan hệ giữa con người với con người. Sức mạnh tinh thần chính là trí lực trong mỗi con người. Như vậy, xem xét dưới các góc ñộ khác nhau có thể có những khái niệm khác nhau về nhân lực, từ những khái niệm này tác giả có thể nhận ñịnh 11 một cách khái quát về nhân lực: Nhân lực là toàn bộ các khả năng về thể lực, trí lực và nhân cách của con người, nó phản ánh khả năng lao ñộng của con người và là ñiều kiện tiên quyết của mọi quá trình lao ñộng sản xuất của xã hội.
Nguồn nhân lực "Nguồn lực con người" hay "nguồn nhân lực”, xuất hiện khi có sự thay ñổi căn bản về phương thức quản lý, sử dụng con người. Khái niệm này ñược hình thành trong quá trình nghiên cứu, xem xét con người với tư cách là một nguồn lực, là ñộng lực của sự phát triển. Các công trình nghiên cứu trên thế giới và trong nước ñề cập ñến khái niệm nguồn nhân lực với các góc ñộ khác nhau. Theo Liên Hợp Quốc thì nguồn nhân lực là trình ñộ lành nghề, là kiến thức và năng lực của toàn bộ cuộc sống con người hiện có thực tế hoặc tiềm năng ñể phát triển kinh tế - xã hội trong một cộng ñồng.
"Nguồn nhân lực là nguồn lực con người và nguồn lực ñó ñược xem xét ở hai khía cạnh. Trước hết, với ý nghĩa là nguồn gốc, nơi phát sinh ra nguồn lực thì nguồn nhân lực nằm ngay trong bản thân con người, ñó là sự khác nhau cơ bản giữa nguồn nhân lực với nguồn lực khác. Thứ hai, với tư cách là nguồn lực của quá trình phát triển, thì nguồn nhân lực là nguồn lực của con người là khả năng sáng tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội, ñược biểu hiện ra ở số lượng và chất lượng nhất ñịnh tại một thời ñiểm nhất ñịnh" [11]. Nghiên cứu của Phạm Minh Hạc “Nguồn nhân lực là tổng thể các tiềm năng lao ñộng của một nước hoặc một ñịa phương, tức nguồn lao ñộng ñược chuẩn bị (ở các mức ñộ khác nhau) sẵn sàng tham gia một công việc lao ñộng nào ñó, tức là những người lao ñộng có kỹ năng (hay khả năng nói chung), bằng con ñường ñáp ứng ñược yêu cầu của cơ chế chuyển ñổi cơ cấu lao 12 ñộng, cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện ñại hóa” [13].
Một quan niệm khác về nguồn nhân lực "Là tổng hợp những năng lực, sức mạnh hiện có thực tế và dưới dạng tiềm năng của lực lượng người, mà trước hết là lực lượng lao ñộng ñang và sẵn sàng tham gia vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội của ñất nước" [15]. Theo Võ Xuân Tiến "Nguồn nhân lực là tổng thể những tiềm năng của con người (trước hết và cơ bản nhất là tiềm năng lao ñộng), gồm thể lực, trí lực và nhân cách của con người nhằm ñáp ứng yêu cầu của một tổ chức hoặc một cơ cấu kinh tế - xã hội nhất ñịnh" [27]. Nguồn nhân lực, theo cách tiếp cận mới, có nội hàm rộng rãi bao gồm các yếu tố cấu thành về số lượng, tri thức, khả năng nhận thức và tiếp thu kiến thức, tính năng ñộng xã hội, sức sáng tạo. Như vậy, các khái niệm trên cho thấy nguồn lực con người không chỉ ñơn thuần là lực lượng lao ñộng ñã có và sẽ có, mà còn bao gồm sức mạnh của thể chất, trí tuệ, tinh thần của các cá nhân trong một cộng ñồng, một quốc gia ñược ñem ra hoặc có khả năng ñem ra sử dụng vào quá trình phát triển xã hội.
Từ những phân tích nêu trên, tác giả luận văn cho rằng: "Nguồn nhân lực là tổng thể những tiềm năng của con người gồm: thể lực, trí lực và nhân cách của con người nhằm ñáp ứng một cơ cấu kinh tế - xã hội ñòi hỏi". Nguồn nhân lực hành chính công Nguồn nhân lực hành chính công bao gồm những lao ñộng tham gia trực tiếp vào các hoạt ñộng hành chính công ở các cơ quan hành chính nhà nước và có thu thập từ chính hoạt ñộng ñó. - Trong ñó cơ quan hành chính nhà nước: + Là cơ quan trong hệ thống chính trị của một quốc gia, là bộ phận cấu thành của bộ máy nhà nước, do cơ quan có thẩm quyền thành lập và hoạt ñộng theo những nguyên tắc và trình tự nhất ñịnh, ñược quy ñịnh rõ chức 13 năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy nhằm thực hiện chức năng theo quy ñịnh của pháp luật, có ñầy ñủ tư cách pháp nhân. + Cơ quan hành chính nhà nước nói chung là cơ quan chấp hành, ñiều hành của cơ quan quyền lực nhà nước.
Thẩm quyền của các cơ quan hành chính nhà nước chỉ giới hạn trong phạm vi hoạt ñộng chấp hành, ñiều hành (hay còn gọi là hoạt ñộng quản lý hành chính nhà nước). + Hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước có mối liên hệ chặt chẽ, thống nhất, ñược thành lập từ trung ương ñến cơ sở, ñứng ñầu là chính phủ. + ðặc trưng quan trọng của cơ quan hành chính nhà nước là tổ chức mang tính quyền lực nhà nước, ñược sử dụng quyền lực nhà nước, nhân danh nhà nước khi tham gia vào các quan hệ pháp luật nhằm thực hiện các quyền và nghĩa vụ pháp lý với mục ñích hướng tới cộng ñồng. - Nguồn nhân lực hành chính trong các cơ quan hành chính nhà nước là ñề cập ñến ñội ngũ cán bộ, công chức trong các cơ quan hành chính nhà nước.
ðây là những người ñược tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc bầu cử và ñược quy ñịnh rõ tại ðiều 4 của Luật Cán bộ, công chức năm 2008: + Cán bộ hành chính nhà nước là công dân Việt Nam, ñược bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan thuộc hệ thống hành chính nhà nước ở trung ương, ở tỉnh, thành phố, ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước. + Công chức hành chính nhà nước là công dân Việt Nam, ñược tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan hành chính Nhà nước, từ cấp trung ương ñến cấp cơ sở, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước. Như vậy có thể hiểu: Nguồn nhân lực hành chính công là tổng thể các tiềm năng lao ñộng (thể lực, trí lực và nhân cách) của những con người làm 14 việc trong cơ quan hành chính nhà nước. Nguồn nhân lực hành chính cấp xã, phường Từ quan ñiểm về nguồn nhân lực hành chính công, chúng ta có thể xem nguồn nhân lực hành chính cấp xã (phường) là tổng thể các tiềm năng lao ñộng của con người làm việc trong cơ quan hành chính nhà nước cấp xã (phường).
ðây là các cán bộ, công chức làm việc trong các cơ quan hành chính nhà nước cấp xã, phường. Trong ñó: - Cán bộ hành chính cấp xã là công dân Việt Nam, ñược bầu cử giữ chức vụ theo nhiệm kỳ trong ủy ban nhân dân cấp xã. - Công chức hành chính cấp xã là công dân Việt Nam ñược tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc ủy ban nhân dân cấp xã, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước. Phát triển nguồn nhân lực Cùng với nguồn nhân lực, khái niệm phát triển nguồn nhân lực ngày càng ñược hoàn thiện hơn và tiếp cận theo nhiều góc ñộ khác nhau.
Phát triển ñược hiểu "Là quá trình biến ñổi, hoặc làm cho biến ñổi từ ít ñến nhiều, từ hẹp ñến rộng, từ thấp ñến cao. Là quá trình học tập, nhằm mở ra cho cá nhân những công việc mới dựa trên cơ sở những ñịnh hướng tương lai cho tổ chức" [27]. Xét trên khía cạnh lực lượng lao ñộng, phát triển ñược hiểu là hoạt ñộng nhằm nâng cao trình ñộ chuyên môn cho người lao ñộng khi xã hội có sự tiến hóa, khoa học kỹ thuật và công nghệ ñã có sự tiến bộ rõ rệt; thực chất ñó là sự chuẩn bị nhân lực ñể thích ứng với công việc trong tương lai. ðối với phát triển nguồn nhân lực, có nhiều quan niệm về vấn ñề này.
Có quan niệm cho rằng phát triển nguồn nhân lực trên bình diện xã hội chỉ là quá trình phát triển nguồn nhân lực con người từ dạng tiềm năng thành vốn 15 con người - vốn nhân lực và chuyển vốn này vào hoạt ñộng kinh tế xã hội. Xét về cá nhân, phát triển nguồn nhân lực là việc nâng cao sức khỏe, trí tuệ, ñạo ñức, năng lực chuyên môn lành nghề, kỹ năng thực hành ñể tăng năng suất lao ñộng, tăng thu nhập và cải thiện chất lượng cuộc sống [16]. Theo quan ñiểm của Tổ chức Lao ñộng quốc tế (ILO): Phát triển nguồn nhân lực bao hàm một phạm vi rộng lớn hơn chứ không phải chỉ có sự chiếm lĩnh trình ñộ lành nghề hoặc ngay cả việc ñào tạo nói chung, mà còn là sự phát triển năng lực ñó của con người ñể tiến tới có việc làm hiệu quả cũng như thỏa mãn nghề nghiệp và cuộc sống cá nhân.