CHƯƠNG 1 CÁC LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC DU LỊCH 1. Khái niệm và đặc trưng của phát triển nguồn nhân lực du lịch 1. Nguồn nhân lực Có thể nói, khái niệm nguồn nhân lực hiện nay không còn xa lạ với nền kinh tế nước ta. Tuy nhiên, cho đến nay quan niệm về vấn đề này hầu như chưa thống nhất.
Tuy có những định nghĩa khác nhau tuỳ theo góc độ tiếp cận, nhưng các định nghĩa về nguồn nhân lực đều đề cập đến các đặc trưng chung là nêu bật tầm quan trọng của nguồn lực con người. Có thể nêu lên một số quan niệm như sau: Theo Liên hợp quốc: “ Nguồn nhân lực là trình độ lành nghề, là kiến thức và năng lực của toàn bộ cuộc sống con người hiện có thực tế, hoặc tiềm năng để phát triển kinh tế - xã hội trong một cộng đồng” (WB. World Development Indicators.) Theo giáo trình “ Nguồn nhân lực” của Nhà xuất bản Lao động xã hội: “ Nguồn nhân lực bao gồm toàn bộ dân cư có khả năng lao động, không phân biệt người đó đang được phân bố vào ngành nghề, lĩnh vực, khu vực nào và có thể đây là nguồn nhân lực xã hội”. Trước xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay thì nguồn nhân lực và sự phát triển nguồn nhân lực nhất là yêu cầu bức thiết giúp các nhà hoạch định chính, các nhà kinh doanh nhất là du lịch cần đặc biệt chú trọng quan tâm từ đó đáp ứng các cơ hội và thách thức do hội nhập quốc tế mang lại.
Phát triển nguồn nhân lực du lịch “Nguồn nhân lực của đất nước nói chung, của cơ quan và ngay cả mỗi gia đình điều cần được phát triển. Phát triển nguồn nhân lực là các hoạt động đầu tư nhằm tạo ra nguồn nhân lực với số lượng và chất lượng đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế-xã hội của đất nước, đồng thời đảm bảo sự phát triển 11 của mỗi cá nhân” (Nguyễn Tiệp. Giáo trình Nguồn nhân lực: Lao động xã hội, 2008) Áp dụng vào phát triển nguồn nhân lực du lịch, phát triển nguồn nhân lực du lịch là các hoạt động đầu tư trong lĩnh vực du lịch nhằm tạo ra nguồn lực con người với số lượng và chất lượng đáp ứng nhu cầu phát triển của ngành, đồng thời đảm bảo sự phát triển của mỗi cá nhân. Phát triển nguồn nhân lực được rất nhiều cơ quan, cá nhân, tổ chức tiếp cận theo nhiều cách khác nhau tuy nhiên chúng ta có thể khái quát một số quan điểm Phát triển nguồn nhân lực như sau: - Theo tổ chức phát triển công nghiệp LHQ (UNIDO): Phát triển con người một cách hệ thống vừa là mục tiêu vừa là đối tượng của sự phát triển của một quốc gia.
Nó bao gồm mọi khía cạnh kinh tế và khía cạnh xã hội. Như nâng cao khả năng cá nhân, tăng năng lực sản xuất và khả năng sáng tạo, bồi dưỡng chức năng chỉ đạo thông qua giáo dục, đào tạo nghiên cứu và hoạt động thực tiễn. - Tổ chức Lao động quốc tế (ILO): Phát triển nguồn nhân lực, bao hàm một phạm vi rộng lớn hơn chứ không chỉ có sự chiếm lĩnh ngành nghề, hoặc ngay cả việc đào tạo nói chung. Quan niệm này dựa trên cơ sở nhận thức rằng, con người có nhu cầu sử dụng năng lực của mình để tiến tới có được việc làm hiệu quả, cũng như những thỏa mãn về nghề nghiệp và cuộc sống cá nhân.
Sự lành nghề được hoàn thiện nhờ bổ sung nâng cao kiến thức trong quá trình sống, làm việc, nhằm đáp ứng kỳ vọng của con người. Như vậy thực chất của việc phát triển nguồn nhân lực là tìm cách nâng cao chất lượng của nguồn nhân lực đó. Nói cách khác, nếu tăng quy mô quan tâm đến việc tăng số lượng nguồn nhân lực, thì phát triển nguồn nhân lực quan tâm đến chất lượng của nguồn nhân lực đó. Nâng cao chất lượng NNL là quá trình tạo lập và phát triển năng lực toàn diện của con người vì sự tiến bộ kinh tế, xã hội và sự hoàn thiện bản chất mỗi con người.
12 Vậy theo tác giả phát triển nguồn nhân lực ngành du lịch là tăng trưởng về quy mô và cơ cấu ngành du lịch, nâng cao chất lượng và phát triển bền vững tạo ra công ăn việc làm, nâng cao mức sống cho người lao động du lịch, bảo vệ môi trường, phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Phát triển nguồn nhân lực du lịch Là việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phục vụ và đáp ứng cho ngành du lịch, nguồn nhân lực này được đào tạo phát triển chỉ để phục vụ trong lĩnh vực du lịch, trở thành nguồn nhân lực đem lại hiệu quả kinh tế và doanh thu cho doanh nghiệp. Đặc trưng của phát triển nguồn nhân lực du lịch - Khái niệm du lịch được rất nhiều tổ chức đưa ra nhưng có thể nói rằng: Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên trong thời gian không quá 01 năm liên tục nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, nghỉ dưỡng, giải trí, tìm hiểu, khám phá tài nguyên du lịch hoặc kết hợp với mục đích hợp pháp khác. - Lao động trong kinh doanh du lịch là một bộ phận cấu thành của xã hội.
Được hình thành và phát triển trên cơ sở của sự phân công lao động xã hội. Nên nó mang đặc điểm chung của lao động xã hội, như: đáp ứng yêu cầu của xã hội, tạo ra của cải vật chất, thúc đẩy xã hội phát triển và phụ thuộc vào hình thái kinh tế xã hội. Tuy nhiên, ngành du lịch là một lĩnh vực có nhiều nét đặc trưng riêng nên lao động trong du lịch cũng có những nét đặc thù riêng. - Lao động trong kinh doanh du lịch bao gồm lao động sản xuất vật chất và lao động sản xuất phi vật chất.
Trong đó lao động sản xuất phi vật chất chiếm tỷ trọng lớn. Lao động trong du lịch chủ yếu là lao động tạo ra các dịch vụ. Chính vì thế, các dịch vụ này không có hình dạng vật chất cụ thể nên lao động tạo ra chúng là lao động sản xuất phi vật chất. 13 - Lao động trong du lịch có tính chuyên môn hoá cao.
Tính chuyên môn hóa tạo ra các nhiệm vụ từng khâu, từng bộ phận khác nhau. Mỗi bộ phận đều có ảnh hưởng dây chuyền đến các bộ phận khác trong toàn bộ hệ thống nên các bộ phận trở nên phụ thuộc nhau. - Thời gian lao động phụ thuộc vào thời gian, đặc điểm tiêu dùng của khách bất kể thời gian nào khách đến cũng phải tiếp đón, phục vụ với đặc điểm của nhu cầu du lịch đã nêu trên. Vì vậy, người lao động thường làm việc nhiều giờ trong ngày và làm việc cả vào ngày lễ, ngày nghỉ.
Tỷ lệ lao động trẻ, lao động nữ, lao động thời vụ trong ngành du lịch cao hơn các ngành khác. Nhiều đơn vị hoạt động liên tục 24 giờ/ ngày, 7 ngày/tuần, 365 ngày/ năm. Tỷ lệ về luân chuyển lao động cao trong nội bộ ngành, tỷ lệ lao động vào ngành và rời khỏi ngành cao. - Cường độ lao động trong ngành du lịch không cao nhưng thường phải chịu áp lực tâm lý lớn và môi trường làm việc phức tạp do thường xuyên phải tiếp xúc với nhiều loại đối tượng có trình độ, nghề nghiệp, quốc tịch, thói quen tiêu dùng khác nhau.
- Cơ cấu đội ngũ lao động trong du lịch khá đa dạng trình độ văn hóa, nghiệp vụ, thâm niên công tác, kỹ năng xã hội. Lao động trong kinh doanh du lịch cần nhiều lao động có kỹ năng cao về các nghiệp vụ khác nhau, đồng thời tỷ lệ lao động không có kỹ năng cũng khá lớn. Tuy nhiên, ngành du lịch là một lĩnh vực có nhiều nét đặc trưng riêng nên lao động trong du lịch cũng có những nét đặc thù riêng. - Lao động trong kinh doanh du lịch bao gồm lao động sản xuất vật chất và lao động sản xuất phi vật chất.
Trong đó lao động sản xuất phi vật chất chiếm tỷ trọng lớn. Lao động trong du lịch chủ yếu là lao động tạo ra các dịch vụ. Chính vì thế, các dịch vụ này không có hình dạng vật chất cụ thể nên lao động tạo ra chúng là lao động sản xuất phi vật chất. 14 - Lao động trong du lịch có tính chuyên môn hoá cao.
Tính chuyên môn hóa tạo ra các nhiệm vụ từng khâu, từng bộ phận khác nhau. Mỗi bộ phận đều có ảnh hưởng dây chuyền đến các bộ phận khác trong toàn bộ hệ thống nên các bộ phận trở nên phụ thuộc nhau. - Thời gian lao động phụ thuộc vào thời gian, đặc điểm tiêu dùng của khách bất kể thời gian nào khách đến cũng phải tiếp đón, phục vụ với đặc điểm của nhu cầu du lịch đã nêu trên. Vì vậy, người lao động thường làm việc nhiều giờ trong ngày và làm việc cả vào ngày lễ, ngày nghỉ.
Tỷ lệ lao động trẻ, lao động nữ, lao động thời vụ trong ngành du lịch cao hơn các ngành khác. Nhiều đơn vị hoạt động liên tục 24 giờ/ ngày, 7 ngày/tuần, 365 ngày/ năm. Tỷ lệ về luân chuyển lao động cao trong nội bộ ngành, tỷ lệ lao động vào ngành và rời khỏi ngành cao. - Cường độ lao động trong ngành du lịch không cao nhưng thường phải chịu áp lực tâm lý lớn và môi trường làm việc phức tạp do thường xuyên phải tiếp xúc với nhiều loại đối tượng có trình độ, nghề nghiệp, quốc tịch, thói quen tiêu dùng khác nhau.
- Cơ cấu đội ngũ lao động trong du lịch khá đa dạng trình độ văn hóa, nghiệp vụ, thâm niên công tác, kỹ năng xã hội. Lao động trong kinh doanh du lịch cần nhiều lao động có kỹ năng cao về các nghiệp vụ khác nhau, đồng thời tỷ lệ lao động không có kỹ năng cũng khá lớn. Trong ngành kinh tế du lịch, lao động là nguồn lực quan trọng quyết định hiệu quả của doanh nghiệp. Vai trò nguồn nhân lực đối với ngành du lịch Nguồn nhân lực đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế - xã hội nói chung và ngành du lịch nói riêng, nó là một trong bốn nguồn lực thúc đẩy quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước (nguồn nhân lực, nguồn tài nguyên thiên nhiên, nguồn vốn và khoa học công nghệ).
Các nguồn nhân lực này có vai trò tác động không như nhau trong toàn bộ quá trình CNH- 15 HĐH. Trong các nguồn lực, nguồn nhân lực có vai trò quyết định nhất.