Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC CNTT TRONG KHU VỰC HÀNH CHÍNH CÔNG 1. NGUỒN NHÂN LỰC CÔNG NGHỆ THÔNG TIN 1. Một số khái niệm 1. Nguồn nhân lực Nguồn nhân lực hay còn được gọi là "nguồn lực con người” được hiểu ở tầm vĩ mô là một nguồn lực đầu vào quan trọng cho sự phát triển của đất nước.
Ở nước ta, khái niệm “nguồn nhân lực” được nhắc đến nhiều kể từ đầu thập kỷ 90 của thế kỷ XX. Tuy nhiên, cho đến nay, quan niệm về vấn đề này hầu như chưa thống nhất, tuỳ theo mục tiêu cụ thể mà người ta có những nhận thức khác nhau về nguồn nhân lực. Một số quan niệm như sau: Theo GS.TSKH Phạm Minh Hạc, nguồn nhân lực được quan niệm là “số dân và chất lượng con người bao gồm: thể chất, tinh thần, sức khoẻ, trí tuệ, năng lực và phẩm chất” [4]. Nguyên Thủ tướng Phan Văn Khải khẳng định: "Nguồn nhân lực con người bao gồm cả sức lao động, trí tuệ và tinh thần gắn với truyền thống của dân tộc ta".
[7] Như vậy, các quan niệm về nguồn nhân lực tuy khác nhau ở cách tiếp cận nhưng đều có điểm chung khi cho rằng đó là khái niệm về số dân cư, cơ cấu dân cư và chất lượng dân cư của một đất nước với tất cả các đặc điểm về thể chất, tinh thần, sức khoẻ, trí tuệ, năng lực, phẩm chất và lịch sử của dân tộc đó. Nguồn nhân lực được nghiên cứu trên giác độ số lượng, chất lượng. Số lượng nguồn nhân lực được xác định dựa trên quy mô dân số, cơ cấu tuổi, giới tính và sự phân bố theo khu vực và vùng lãnh thổ của dân số. Ở nước ta, số lượng nguồn nhân lực được xác định bao gồm tổng số người trong độ tuổi lao Luan van 5 động (Nam: 15 đến 60; nữ : 15 đến 55).
Đây là lực lượng lao động tiềm năng của nền kinh tế - xã hội. Chất lượng nguồn nhân lực thể hiện trạng thái nhất định của nguồn nhân lực với tư cách vừa là một khách thể vật chất đặc biệt, vừa là chủ thể của mọi hoạt động kinh tế và các quan hệ xã hội. Chất lượng nguồn nhân lực là tổng thể những nét đặc trưng phản ánh bản chất, tính đặc thù liên quan trực tiếp tới hoạt động sản xuất và phát triển con người. Do vậy chất lượng nguồn nhân lực bao gồm: Tình trạng sức khoẻ, trình độ văn hoá, trình độ chuyên môn và năng lực phẩm chất, tác phong làm việc… Chất lượng nguồn nhân lực liên quan trực tiếp đến nhiều lĩnh vực như đảm bảo dinh dưỡng, chăm sóc sức khoẻ, giáo dục và đào tạo, lao động và việc làm gắn với tiến bộ kỹ thuật, trả công lao động và các mối quan hệ xã hội khác.
Nguồn nhân lực công nghệ thông tin Trước khi nói về NNL CNTT, ta cần xác định các vấn đề: "những ai" là "nhân lực CNTT", "công việc nào" được coi là “công việc thuộc về CNTT”. Việc xác định khái niệm này không phải là công việc đơn giản. Nghề nghiệp hay công việc trong ngành CNTT được hiểu rất khác nhau từ các góc độ kỹ thuật và các kỹ năng cần thiết khác. Các công việc này không chỉ hoàn toàn thuộc về ngành CNTT (ngành nghề có phạm vi kinh doanh cơ bản là tạo ra và bán các sản phẩm CNTT, các hệ thống và các dịch vụ) và chúng cũng không phải chỉ có liên quan đến việc thiết kế và tạo lập các công cụ, sản phẩm CNTT.
Thay vào đó, chúng được phân bố trong tất cả các thành phần của xã hội, trong các hoạt động của các cơ quan Chính phủ, các tổ chức, các ngành kinh tế khác nhau, vv. Các Luan van 6 công việc đó có thể liên quan đến nhiều người trong việc đề xuất, triển khai thực hiện, gia tăng lợi ích và duy trì các hệ thống dựa trên nền CNTT. Khái niệm về CNTT: “Công nghệ thông tin là tập hợp các phương pháp khoa học, công nghệ và công cụ kỹ thuật hiện đại để sản xuất, truyền đưa, thu thập, xử lý, lưu trữ và trao đổi thông tin số.” [7] Khái niệm NNL CNTT: “nguồn nhân lực công nghệ thông tin được hiểu là nhân lực làm công tác đào tạo về CNTT, điện tử, viễn thông; nhân lực chuyên nghiệp về CNTT, điện tử, viễn thông làm trong các doanh nghiệp và công nghiệp; nhân lực cho ứng dụng CNTT của các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp; cán bộ, viên chức và mọi người dân sử dụng, ứng dụng CNTT.” [7] Nguồn nhân lực CNTT Nhân lực đào tạo Nhân lực chuyên Nhân lực cho ứng Người dân sử dụng về CNTT nghiệp CNTT dụng CNTT các ứng dụng của CNTT Hình 1.1: Sơ đồ NNL CNTT *Nhân lực đào tạo về CNTT bao gồm: - Đội ngũ giáo viên CNTT&TT (Tin học, điện tử) tại các trường, khoa chuyên đào tạo CNTT&TT Luan van 7 - Đội ngũ giáo viên CNTT tại các trường không có ngành đào tạo CNTT&TT - Đội ngũ giáo viên dạy môn tin học tại các trường phổ thông *Nhân lực chuyên nghiệp CNTT: Nhóm này bao gồm mọi lao động làm việc trong ngành CNTT và Truyền thông, cụ thể: - Trong các doanh nghiệp viễn thông - Trong các doanh nghiệp công nghiệp CNTT + Công nghiệp phần cứng và điện tử + Công nghiệp phần mềm và nội dung thông tin số - Trong các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ về CNTT * Nhân lực cho ứng dụng CNTT: - Trong các cơ quan quản lý nhà nước, các tổ chức chính trị, xã hội: + Các cơ quan ở Trung ương + Các cơ quan cấp tỉnh + Các cơ quan cấp huyện + Các cơ quan cấp xã - Trong các doanh nghiệp - Trong ngành y tế , giáo dục, các cơ sở nghiên cứu khoa học *Người dân sử dụng các ứng dụng CNTT Nhóm này bao gồm tất cả những người biết sử dụng các ứng dụng CNTT mà không thuộc các nhóm trên. Ví dụ: Luan van 8 - Người dân sử dụng tại các hộ gia đình, nông dân - Các cá nhân trong các đơn vị / hộ gia đình kinh doanh cá thể - Học sinh trung học phổ thông và học sinh trung học cơ sở 1.
Nguồn nhân lực công nghệ thông tin khu vực hành chính công Nguồn nhân lực CNTT khu vực hành chính công Cán bộ chuyên CBCC,VC sử dụng trách về CNTT CNTT Hình 1.2: Sơ đồ NNL CNTT khu vực hành chính công NNL CNTT khu vực hành chính công là nhân lực làm việc trong các cơ quan hành chính nhà nước, bao gồm: - Cán bộ chuyên trách về CNTT (cán bộ chuyên môn CNTT và giám đốc công nghệ thông tin - CIO). Nhân lực thuộc nhóm này phải được đào tạo chuyên ngành về CNTT. - Cán bộ công chức, viên chức biết sử dụng máy tính, Internet và các ứng dụng CNTT. Đặc điểm của nguồn nhân lực công nghệ thông tin.
Đặc điểm của ngành CNTT. - CNTT là ngành công nghiệp có tốc độ phát triển cao: CNTT bắt đầu xuất hiện từ thập niên 1970, tuy nhiên đến thập niên 1990 ngành CNTT mới thật sự phát triển và phát triển với tốc độ rất cao. Những tiến bộ về công nghệ trong lĩnh vực công nghệ thông tin diễn tiến liên tục, có thể tính từng giây. Thế giới ghi nhận từ thập niên 1990 đến nay, tốc độ phát triển trung bình hàng năm của ngành duy trì từ 8%-10% và cao gấp 1,5 lần sự phát triển kinh tế của thế giới - Ngành CNTT có vòng đời sản phẩm ngắn: Bắt nguồn từ sự phát triển với tốc độ cao, sản phẩm CNTT thường có vòng đời rất ngắn.
Theo Hiệp hội Nghiên cứu Máy tính của Mỹ (Computing Research Association – CRA, 1999) vòng đời của sản phẩm công nghệ thông tin thường chỉ có 2 năm và tối đa là 4 năm thì các sản phẩm CNTT đã bị xem là lạc hậu. - Ngành CNTT có chi phí nghiên cứu và phát triển ngành cao: Phát minh và cải tiến thường xuyên là một trong những đặc điểm quan trọng của ngành. Tuy nhiên chi phí cho việc nghiên cứu và phát triển của ngành lại rất cao. Theo số liệu báo cáo của Trung tâm Nghiên cứu Thượng Hải, chi phí nghiên cứu và phát triển có thể chiếm đến 15%-20% doanh thu hàng năm.
- Ngành CNTT có tính tích hợp cao: Ngày nay CNTT đã thâm nhập và tích hợp vào sâu trong các ngành khác như cơ khí, sản xuất ô tô, năng lượng, giao thông, dệt, luyện kim, điện tử làm cho các ngành này nhanh chóng phát triển. Mạng viễn thông, mạng truyền hình và mạng Luan van 10 máy tính đã dần tích hợp vào nhau, chia sẽ thông tin, tài nguyên của nhau và giúp cho các nước trên thế giới xích lại gần nhau hơn. Đặc điểm của NNL CNTT - Nguồn nhân lực CNTT chuyên trách thường là trẻ, năng động, sáng tạo, có trình độ và có khả năng về ngoại ngữ. Đặc điểm của ngành CNTT là ngành thường xuyên cải tiến và thay đổi công nghệ do đó đội ngũ lao động trong ngành này đòi hỏi phải có trình độ cao và luôn luôn được đào tạo cập nhật theo kịp sự phát triển của ngành.
Theo thống kê của Bộ Thông tin và Truyền thông, trên 80% lao động trong ngành công nghiệp phần mềm và nội dung số có trình độ CNTT từ cao đẳng trở lên. Sự thay đổi liên tục của công nghệ đòi hỏi các lao động tồn tại trong ngành CNTT phải có sự say mê với nghề nghiệp để nghiên cứu và sáng tạo không ngừng. Do CNTT bắt nguồn từ Mỹ và phát triển mạnh tại các nước phương Tây, nên để có thể học tập, sử dụng và làm việc với CNTT đòi hỏi người lao động phải có trình độ Anh văn. Ngày nay, có một số nước phát triển CNTT mạnh như Nhật, Hàn Quốc, tuy nhiên, hầu hết các công nghệ mới đều được hướng dẫn bằng tiếng Anh.
- Nguồn nhân lực có tỷ lệ lao động nam giới cao. Thực tế cho thấy rằng tỷ lệ nam giới trong ngành CNTT chiếm tỷ lệ cao hơn nữ giới. Nam giới không chỉ chiếm tỷ lệ lớn lao động trong ngành mà còn đảm nhiệm các vị trí quan trọng như kỹ sư điện tử, chuyên gia phân tích hệ thống máy tính, lập trình viên. Trong khi đó, nữ giới chỉ đảm nhận các công việc khiêm tốn như nhập dữ liệu, điều khiển máy, trực tổng đài.
Tỷ lệ nữ đảm nhận các vị trí quan trọng trong ngành CNTT rất ít. Nhiều chuyên gia cho rằng nguyên nhân có Luan van 11 thể do nhận thức và những áp lực công việc. Đặc thù của một ngành nghề hiện đại đã gây cản trở việc tham gia của người phụ nữ vì những áp lực rất vất vả.