Phần mở đầu; 3 chương và phần kết luận; danh mục tài liệu tham khảo; phần phụ lục. 11 Luan van 12 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƢỢNG CAO Ở VIỆN KHOA HỌC LAO ĐỘNG VÀ XÃ HỘI 1. Quan niệm về nguồn nhân lực chất lƣợng cao và vai trò của nó trong phát triển của Viện Khoa học Lao động và Xã hội 1. Nguồn nhân lực chất lượng cao của Viện Khoa học Lao động và Xã hội Khái niệm nguồn nhân lực chất lượng cao của Viện Khoa học Lao động và Xã hội Hiện nay, đất nước ta đang bước vào giai đoạn đẩy mạnh sự nghiệp CNH, HĐH và phát triển kinh tế nhanh, bền vững.
Với bối cảnh đó, yêu cầu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nhất là trí lực là vấn đề có ý nghĩa quyết định đảm bảo thắng lợi các nhiệm vụ trọng đại đó. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng đã khẳng định: “Phát triển nhanh nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao” [11, tr.106] là một trong ba khâu đột phá chiến lược thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 2011 - 2020. Hiện nay, khi khoa học đã thực sự trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, với hàm lượng chất xám ngày càng chiếm tỷ lệ cao trong mỗi sản phẩm làm ra, thì con người càng tỏ rõ hơn bao giờ hết vai trò quyết định của mình trong nền sản xuất xã hội, của lịch sử nhân loại. Do vậy, việc phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trở thành yêu cầu hàng đầu đối với mỗi tổ chức và mỗi một quốc gia, đặc biệt là đối với các viện, các trung tâm nghiên cứu khoa học công nghệ.
Vậy, hiểu như thế nào là nguồn nhân lực chất lượng cao. Theo quan điểm của C.Mác để có thể phát triển ngành công nghiệp do toàn xã hội thực hiện thì cần phải có những người lao động với năng lực phát triển toàn diện, có đủ thể lực, trí lực, kỹ năng và kinh nghiệm đáp ứng yêu cầu của sản xuất. Đó cũng là những quan niệm rất đúng đắn về phương pháp luận 12 Luan van 13 của C. Mác để nghiên cứu nguồn nhân lực chất lượng cao trong điều kiện hiện nay.
Các nhà kinh tế học cũng cho rằng: NNL mà hạt nhân của nó là lao động kỹ thuật là toàn bộ thể lực, trí lực với trình độ chuyên môn, kỹ năng mà con người tích luỹ được, có khả năng đem lại thu nhập cao trong tương lai. Theo đó, có ba loại nhân lực chủ yếu quyết định sự phát triển là: người lao động có thể lực; chuyên gia lành nghề và những người có ý tưởng sáng tạo. [5] Trong quá trình nghiên cứu, các nhà khoa học, các nhà quản lý cũng đã đưa ra nhiều quan niệm khác nhau về nguồn nhân lực chất lượng cao. Theo PGS Đàm Đức Vượng thì nhân lực chất lượng cao có thể hiểu bao gồm đội ngũ nhân lực khoa học và công nghệ, nhất là các chuyên gia, tổng công trình sư, kỹ sư đầu ngành, công nhân có tay nghề cao, có trình độ chuyên môn - kỹ thuật tương đương với các nước tiên tiến trong khu vực, có đủ năng lực nghiên cứu, tiếp nhận, chuyển giao và đề xuất những giải pháp khoa học, công nghệ, kỹ thuật, giải quyết những vấn đề cơ bản của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; đội ngũ các nhà quản lý các doanh nhân trong nền kinh tế thị trường, các chuyên gia, các nhà khoa học trong các lĩnh vực khoa học, giáo dục, đào tạo,….[45] NNLCLC không đồng nghĩa với trình độ học vấn cao vì học vấn mới chỉ là một yếu tố cấu thành của NNLCLC.
Ngoài trình độ đào tạo NNLCLC còn phải bao hàm những yếu tố và phẩm chất khác như: khả năng sáng tạo, kỹ năng, thói quen, kinh nghiệm nghề nghiệp. Chu Hảo thì “Nhân lực chất lượng cao trước hết phải được thừa nhận trên thực tế, không phải ở dạng tiềm năng. Điều đó có nghĩa là nó không đồng nghĩa với học vị cao. NNLCLC là những người có năng lực thực tế hoàn thành nhiệm vụ được giao một cách xuất sắc nhất, sáng tạo và có đóng góp thực sự hữu ích cho công việc của xã hội” [19] Như vậy, để có nguồn nhân lực chất lượng cao thì cần thiết là người lao động phải có trí tuệ cao, có tay nghề thành thạo, có các phẩm chất cần thiết 13 Luan van 14 được đào tạo bồi dưỡng và phát huy bởi một nền giáo dục tiên tiến gắn liền với một nền khoa học công nghệ hiện đại.
Theo quan niệm của TS. Đinh Sơn Hùng, Viện nghiên cứu phát triển TP.HCM, để đưa ra những tiêu chí đánh giá nguồn nhân lực chất lượng cao, nên dựa trên góc độ của nhà tuyển dụng, sử dụng lao động [22]. Chính họ mới đánh giá một cách chính xác nguồn nhân lực của họ thật sự có chất lượng cao hay không, đó là: trình độ chuyên môn nghiệp vụ, khả năng xử lý thực tế, kỹ năng giao tiếp, làm việc nhóm; có kỷ luật, đạo đức; trình độ văn hóa và kiến thức cơ bản. Qua phân tích các quan điểm trên, có thể nói nguồn nhân lực chất lượng cao là khái niệm để chỉ một con người, một người lao động cụ thể có trình độ lành nghề (về chuyên môn, kỹ thuật) ứng với một ngành nghề cụ thể theo tiêu thức phân loại lao động về chuyên môn, kỹ thuật nhất định (Đại học, trên đại học, cao đẳng, lao động kỹ thuật lành nghề); có kỹ năng lao động giỏi và có khả năng thích ứng nhanh với những thay đổi nhanh chóng của công nghệ sản xuất; có sức khỏe và phẩm chất tốt, có khả năng vận dụng sáng tạo những tri thức, những kỹ năng đã được đào tạo vào quá trình lao động sản xuất nhằm đem lại năng suất, chất lượng và hiệu quả cao.
Để đánh giá nguồn nhân lực chất lượng cao, có thể dựa vào các tiêu chí như: khả năng thích ứng trong thời gian nhanh nhất với môi trường lao động và với tiến bộ khoa học công nghệ mới; tác phong kỷ luật và đạo đức trong công việc; tính sáng tạo. Hai tiêu chí trước là điều kiện cần để đánh giá chất lượng lao động, còn điều kiện đủ là khả năng tư duy đột phá trong công việc, hay còn gọi là tính sáng tạo. Khái niệm nhân lực chất lượng cao nhấn mạnh tính tổng hòa đạo đức nghề nghiệp (nhân cách), thể lực, trình độ, ý chí, niềm đam mê và tay nghề (độ lành nghề) như một sức sản xuất (vật chất và tinh thần). Viện Khoa học Lao động và Xã hội là một viện nghiên cứu khoa học được thành lập từ năm 1978.
Viện được công nhận là một trong số các viện 14 Luan van 15 đầu ngành có chức năng nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu chiến lược và ứng dụng về lĩnh vực lao động, người có công và xã hội. Lĩnh vực nghiên cứu chính bao gồm: dân số, lao động, việc làm; tiền lương, tiền công; quan hệ lao động, an sinh xã hội (bảo hiểm xã hội, bảo trợ xã hội, xóa đói giảm nghèo, phòng, chống tệ nạn xã hội, người có công; bảo vệ và chăm sóc trẻ em;); môi trường và điều kiện lao động (an toàn, vệ sinh lao động, trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp, các tiêu chuẩn lao động); lao động nữ và bình đẳng giới. Trong giai đoạn hiện nay, Nhà nước ta đang đẩy mạnh hoàn thiện các chính sách dân số, lao động, giới, an sinh xã hội, phát triển nguồn nhân lực,…. Chính vì vậy, nhiệm vụ nghiên cứu khoa học của Viện ngày càng nặng nề hơn, để có thể đóng góp nhiều hơn nữa các luận cứ khoa học phục vụ cho việc hoạch định chiến lược, chính sách phát triển nguồn nhân lực, lao động, việc làm và ổn định xã hội.
Chính vì vậy, nhu cầu về phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao – vốn là lực lượng nòng cốt để đảm bảo hoàn thành nhiệm vụ của Nhà nước giao cho Viện là hết sức cần thiết. Với khối lượng công tác nghiên cứu ngày một tăng thì nhân lực chất lượng cao của Viện cần phải được gia tăng cả về số lượng và chất lượng. Khác với những lĩnh vực khác, trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học của Viện thì nguồn nhân lực chất lượng cao cần thiết phải đảm bảo những tiêu chí nhất định. Đó là người lao động phải có năng lực chuyên môn cao (có trình độ đào tạo cao), có kinh nghiệm, có thể lực tốt, có đạo đức nghề nghiệp, kỹ năng xã hội.
Từ những vấn đề chung về NNLCLC có thể đưa ra khái niệm về NNLCLC của Viện Khoa học Lao động và Xã hội như sau: Đối với NNLCLC của Viện thì nguồn nhân lực chất lượng cao của Viện Khoa học Lao động và Xã hội là những người lao động được đào tạo ở trình độ cao, có sức khỏe, bản lĩnh chính trị, có kỹ năng nghề nghiệp và trình độ chuyên môn cao, tinh thông nghiệp vụ và có kinh nghiệm tốt làm việc tại Viện Khoa học 15 Luan van 16 Lao động và Xã hội, đủ sức hoàn thành các nhiệm vụ của Viện trong hiện tại cũng như tương lai. Như vậy, NNLCLC của Viện Khoa học Lao động và Xã hội là nguồn nhân lực đáp ứng được những tiêu chí: phải được đào tạo bài bản về chuyên môn, kỹ thuật theo yêu cầu của công việc và nhiệm vụ được giao, ngoài ra phải có những kỹ năng, và kinh nghiệm tốt trong công việc. Cơ cấu nguồn nhân lực chất lượng cao tại Viện Khoa học Lao động và Xã hội bao gồm 3 bộ phận: Thứ nhất, đội ngũ lãnh đạo quản lý của Viện: Đội ngũ này bao gồm: Viện trưởng, các Phó viện trưởng, Giám đốc trung tâm, Phó giám đốc trung tâm và các trưởng, phó phòng ban chức năng khác. Đây là bộ phận chủ yếu và ưu tú nhất của NNLCLC, bởi họ là những người có tri thức và trình độ học vấn cao (chủ yếu được đào tạo trong một hệ thống giáo dục).
Họ đóng vai trò tiên phong trong việc thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và lãnh đạo, hoạch định định hướng phát triển, hoạt động, thực hiện những mục tiêu đặt ra cho Viện. Họ là những đầu tàu dẫn dắt Viện Khoa học Lao động và Xã hội hoàn thành nhiệm vụ, mục tiêu trong từng thời kỳ và đi đến thành công. Với đặc trưng cơ bản là lao động trí óc phức tạp, sáng tạo, đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý có vai trò to lớn trong việc tham gia lãnh đạo, quản lý, điều hành Viện.