CHƯƠNG 1:TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN CÁC NGUỒN LỰC TÀI CHÍNH CHO ĐHLC. Tổng quan nghiên cứu 1. Nghiên cứu của các học giả quốc tế Phát triên các nguồn tài chính cho giáo dục ĐHCL luôn là vấn đề được các giới học thuật quốc tế quan tâm nghiên cứu.H (2008) đã chỉ ra rằng, hầu hết ở các nước trên thế giới, nguồn tài chính cho hệ thống giáo dục đại học được kết hợp giữa các nguồnlực nhà nước và tư nhân. Tuy nhiên, giữa các nước khác nhau thì tỷ trọng về nguồn hỗ trợ từ nhà nước và tư nhân cho các trường cũng không giống nhau.
Ở nhiều nước, nguồn tài chính chủ yếu của các trường là do nhà nước cung cấp, dưới hình thức hỗ trợ của chính phủ; học phí và các nguồn hỗ trợ tư nhân khác thì không đáng kể hoặc không hề có. Ở những nước ngày, việc hỗ trợ từ Chính phủ cho các trường đại học dựa vào các hoạt động nghiên cứu và các chi phí hoạt động thường xuyên. Kết quả nghiên cứu của Lee (2001), Mazzoleni và Nelson (2007) về giáo dục tại một số nước Đông Á (Hàn Quốc, Nhật Bản) cho thấy sự thay đổi trong cơ cấu nguồn lực tài chính công đầu tư cho giáo dục đại học theo hướng giảm dần tỷ lệ nguồn hỗ trợ từ ngân sách nhà nước, hạn chế dần số chỉ tiêu mới trong các trường công miễn phí hoặc học phí thấp. Salmi (2001, 2002) ghi nhận vai trò của chính phủ trong giáo dục đại học đang chuyển từ việc hỗ trợ nguồn tài chính chính sang vai trò điều tiết, tạo ra khuôn khổ chính sách chặt chẽ, cung cấp môi trường công nhận kiểm định chất lượng và khuyến khích huy động nguồn lực tài chính từ xã hội.
Friedman (2005) trong nhiều nghiên cứu về khả năng tiếp cận giáo dục đại học tại Mỹ cho thấy vì khó khăn lớn về tài chính, người có thu nhập thấp 5 c khó có khả năng theo học tại bất kỳ một trường đại học nào mà không có một học bổng. Ông cảnh báo rằng việc cho phép vận dụng cơ chế tài chính như mô hình doanh nghiệp đối với các trường ĐHCL (ví dụ như, thu học phí cao và sử dụng các khoản vay) đặt ra một vấn đề nghiêm trọng về công bằng trong tiếp cận giáo dục trong bối cảnh có sự chênh lệch về mức sống giữa các các hộ gia đình. Theo đó ông đề xuất Chính phủ cần có các chính sách tài chính đầu tư vào giáo dục để giải quyết bài toán về sự chênh lệch về thu nhập giữa các hộ gia đình và gắn liền với sự phát triển kinh tế.Stiglitz (1995), “sự bao cấp giáo dục đại học đã bị phê phán cả về cơ sở công bằng lẫn hiệu quả.Luận cứ chính của sự hỗ trợ của chính phủ là nó đã dẫn đến sự phân phối thu nhập bình quân. Song sự phê phán lại nêu lên sự ngược lại: những người nhận trợ cấp chủ yếu là những người đã có may mắn.
Bởi vì thu nhập trung bình của những người đi học đại học cao hơn những người không đi học, vì vậy giúp đỡ họ nghĩa là giúp cho người khá giả hơn. Tác động thuần túy của trợ giúp đối với phân phối thu nhập không rõ ràng: vì người giàu có hơn thường đóng thuế nhiều hơn, cho nên họ phải chịu phần chi phí lớn hơn, nhưng lại được nhận phần lợi ích lớn hơn.” Vì vậy, ông đã đề xuất thực hiện chính sách cho vay để đi học (không phân biệt người nghèo hay người giàu); khi đó người học sẽ phải cân nhắc giữa lợi ích và chi phí và đưa ra các quyết định hữu hiệu, tránh tình trạng “tiêu dùng quá mức” giáo dục đại học nếu được bao cấp. Tại Mỹ, hầu hết các nghiên cứu đều chỉ ra sự gia tăng của khu vực kinh tế tư nhân trong việc cung cấp dịch vụ giáo dục đại học và những tác động tích cực của các chính sách tài chính công để hỗ trợ việc tuyển sinh của các trường đại học tư thục. Ví dụ, theo Heller (1996), học phí tăng làm ảnh hưởng tiêu cực đến tuyển sinh đại học, đặc biệt là cho các sinh viên có thu nhập thấp và là người dân tộc thiểu số.
Tuy vậy, khi Chính phủ thực hiện các 6 c chương trình tài trợ tài chính (như cho vay, vừa học vừa làm) lại có tác động tích cực về tiếp cận dịch vụ giáo dục đại học. Đầu những năm 1990, hầu hết các nước châu Âu đều thực hiện chương trình giáo dục đại học miễn phí (ví dụ: Đức, Đan Mạch, Hy Lạp và Luxembourg). Theo đó tài chính giáo dục đại học bị phụ thuộc rất nhiều vào nguồn lực tài chính công của mỗi Chính phủ. Trong thời gian gần đây, các nước châu Âu đã bắt đầu chuyển sang hình thức chia sẻ chi phí giữa Chính phủ và người học và tư nhân hóa hoạt động cung cấp dịch vụ giáo dục đại học (Stamoulas, 2005).
Đức, Luxembourg và Hy Lạp đã thực thi chính sách hỗn hợp các khoản tài trợ và cho vay và bắt đầu tăng học phí (Vossensteyn, 2004). Ở các nước đang phát triển, để tăng thêm nguồn lực tài chính cho giáo dục đại học trong bối cảnh ngân sách nhà nước khó khăn, Chính phủ các nước này đều thực thi chính sách học phí và các khoản vay tín dụng sinh viên. Tại Ấn Độ, từ giữa những năm 1990, Chính phủ bắt đầu giảm các ưu tiên tài chính cho giáo dục đại học, thay vào đó là các nguồn tài trợ phi chính phủ, bao gồm chi phí của từng gia đình, học phí, các khoản vay sinh viên, và tự nguyện đóng góp, tuy vậy lại nảy sinh vấn đề về công bằng và cơ hội tiếp cận giáo dục đại học (Prakash, 2007). Các nước châu Á khác như Indonesia, Malaysia, và Thái Lan cho phép thành lập các cơ sở giáo dục đại học tư thục.
Tuy vậy cũng không giải quyết được vấn đề nâng cao cơ hội tiếp cận dịch vụ giáo dục đại học đối với người nghèo, những người bây giờ cũng đang có nguy cơ bị hạn chế cơ hội theo học tại các trường ĐHCL do sự gia tăng học phí của các cơ sở này (Welch, 2009). Tại Bangladesh, tuyển sinh của các trường đại học tư nhân được mở rộng đáng kể để đáp ứng các nhu cầu theo học đại học của một nhóm thu nhập trung bình, có thể chịu được mức đóng học phí cao hơn học phí tại các trường công lập, nhưng vẫn hạn chế các cơ hội học tập của sinh viên giỏi gặp khó khăn về kinh tế. 7 c Ở Mỹ Latinh, các hệ tư tưởng về đại học miễn phí đã biến mất trong vài thập kỷ gần đây và các trường ĐHCL phải đối mặt với sự giảm đầu tư từ ngân sách nhà nước (Torres & Schugurensky, 2002). Sự phát triển bùng nổ về việc tiếp cận dịch vụ giáo dục đại học từ những năm 1980 đã gây sức ép đối với Chính phủ các nước Mỹ Latinh để bắt đầu hoặc mở rộng các trường đại học tư thục và các nguồn đóng góp khác bên cạnh nguồn ngân sách cho giáo dục đại học.
Hiện nay, tại Brazil, Mexico, Colombia và Peru, một nửa sinh viên của các nước này theo học tại các trường đại học tư thục và các trường ĐHCL đều áp dụng mức thu học phí cao để bù đắp chi phí đào tạo (Gorostiaga, 1999). Nghiên cứu của Haroon Chowdry trong công trình "Funding Higher Education: Issues and Implications- tài chính cho giáo dục đại học - vấn đề và thực hiện" chỉ ra rằng ở Vương quốc Anh, chi phí mà cá nhân đóng góp chung cho hệ thống giáo dục đại học trước khi có cải cách (2006) chỉ chiếm khoảng 8% chi phí dạy học, sau cải cách đạt tỷ lệ 23% tư nhân đóng góp, như vậy xã hội hóa dịch vụ giáo dục có xu hướng tăng cao. Nghiên cứu chỉ ra rằng, những ai học đại học có cơ hội kiếm tiền, việc làm dễ hơn những người khác. Vì vậy, khi nghiên cứu, quan niệm về đầu tư cho giáo dục đại học sẽ không mang tính công.
Do đó, đòi hỏi tăng đóng góp tư cho giáo dục đại học như là một thỏa đáng. Nhưng mặt khác, giáo dục đại học có thể tạo ra những yếu tố ngoại biên tích cực "positive externalities", nghĩa là tác động ảnh hưởng đem lại không chỉ cho chính người đi học mà còn cho cả nền kinh tế. Trong quyển sách "Đặt giáo dục đại học vào công việc của Ngân hàng thế giới thuộc khu vực Đông Nam Á", Putting Higher Education to Work- Skills and Research for Growth in East Asia, nhóm tác giả của Ngân hàng thế giới cũng đã tìm kiếm cách tiếp cận các dự án, chương trình hỗ trợ sinh viên đại học tiếp cận đến nguồn ngân sách tài trợ, hỗ trợ của nhà nước. Đề tài 8 c hướng đến việc đầu tư từ NSNN trong cung cấp dịch vụ sự nghiệp công sẽ hướng đến đối tượng trực tiếp là sinh viên.
Thái Lan từ 1996 đã có dự án "Quỹ tín dụng sinh viên - The student loan Fund" nhằm hỗ trợ sinh viên gia đình có thu nhập thấp được vay ưu đãi từ nguồn NSNN để trang trải học phí, chi phí sinh hoạt lẫn các loại chi phí có liên quan đến học đại học. Gần 10 năm từ 1996-2006, Chính phủ đã giải ngân cho vay hơn 5,7 tỷ đôla cho hơn 2,6 triệu sinh viên. Tuy nhiên quản lý vốn vay và trả nợ cũng là vấn đề. Bên cạnh chương trình cho vay thông thường, Chính phủ có thể áp dụng chương trình tín dụng cho vay sinh viên linh hoạt (income contingent loan).
Đây là chương trình khá linh hoạt nhằm cho phép nhiều người có thể tiếp cận. Tóm lại, về các nghiên cứu cụ thể về chủ đề này, có thể nói rằng số lượng sách, bài báo, các công trình nghiên cứu đã được các học giả quốc tế công bố là tương đối đồ sộ. Những nghiên cứu đó thường bao gồm cả phần lý luận và thực tiễn, với những minh chứng cụ thể, sinh động và đều cho thấy xu thế chung của tài chính giáo dục đại học ở các nước trên thế giới (cả nước phát triển và đang phát triển). Đó là sự chia sẻ chi phí giữa chính phủ với người học và sự phát triển của các trường đại học tư thục trong việc cung cấp dịch vụ giáo dục đại học.
Bên cạnh đó, việc tăng học phí đại học mà không có các chương trình tài trợ từ Chính phủ cho các đối tượng chính sách, nhà nghèo sẽ có tác động tiêu cực đến cơ hội tiếp cận dịch vụ giáo dục, đặc biệt là cho các sinh viên có thu nhập thấp.