Quản lý phát triển ngôn ngữ cho trẻ 5-6 tuổi tại trường mẫu giáo Phú Tân, Cà Mau

Các phương pháp hiệu quả phát triển ngôn ngữ cho trẻ 5-6 tuổi tại Phú Tân, Cà Mau. Giúp trẻ tự tin giao tiếp và sẵn sàng vào lớp 1.

Chuyên ngành

Quản lý giáo dục

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2021

129
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ

MỞ ĐẦU

0.1. Lý do chọn đề tài

0.2. Mục đích nghiên cứu

0.3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu

0.4. Giả thuyết khoa học

0.5. Phạm vi nghiên cứu của đề tài

0.6. Nhiệm vụ nghiên cứu

0.7. Phương pháp nghiên cứu

0.8. Cấu trúc của luận văn: Luận văn gồm 3 phần

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ TRẺ 5 – 6 TUỔI TẠI CÁC TRƯỜNG MẨU GIÁO

1.1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề

1.1.1. Các nghiên cứu ở nước ngoài

1.1.2. Các nghiên cứu trong nước

1.2. Các khái niệm chính của đề tài

1.2.1. Khái niệm quản lý

1.2.2. Quản lý giáo dục

1.2.3. Khái niệm ngôn ngữ

1.2.4. Khái niệm Phát triển ngôn ngữ trẻ 5 – 6 tuổi

1.2.5. Quản lý hoạt động phát triển ngôn ngữ trẻ 5 – 6 tuổi

1.3. Lý luận về hoạt động phát triển ngôn ngữ trẻ 5 – 6 tuổi ở trường mẫu giáo

1.3.1. Mục tiêu của hoạt động phát triển ngôn ngữ trẻ 5 – 6 tuổi

1.3.2. Nội dung hoạt động phát triển ngôn ngữ trẻ 5 – 6 tuổi

1.3.3. Phương pháp, hình thức phát triển ngôn ngữ trẻ 5– 6 tuổi

1.3.4. Sự phối hợp lực lượng giáo dục trong hoạt động phát triển ngôn ngữ trẻ 5 – 6 tuổi

1.3.5. Kiểm tra đánh giá hoạt động phát triển ngôn ngữ trẻ 5 – 6 tuổi

1.3.6. Điều kiện tổ chức hoạt động phát triển ngôn ngữ trẻ 5-6 tuổi

1.4. Quản lý hoạt động phát triển ngôn ngữ trẻ 5 – 6 tuổi ở trường mẫu giáo

1.4.1. Quản lý mục tiêu hoạt động phát triển ngôn ngữ trẻ 5 – 6 tuổi

1.4.2. Quản lý nội dung hoạt động phát triển ngôn ngữ trẻ 5 – 6 tuổi

1.4.3. Quản lý phương pháp, hình thức hoạt động phát triển ngôn ngữ trẻ 5–6 tuổi

1.4.4. Quản lý hoạt động phối hợp các lực lượng phục vụ phát triển ngôn ngữ trẻ 5 – 6 tuổi

1.4.5. Quản lý kiểm tra, đánh giá hoạt động phát triển ngôn ngữ trẻ 5 – 6 tuổi

1.4.6. Quản lý điều kiện tổ chức hoạt động phát triển ngôn ngữ trẻ 5 – 6 tuổi

1.5. Đánh giá chung

1.6. TIỂU KẾT CHƯƠNG 1

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ CHO TRẺ 5 – 6 TUỔI TẠI CÁC TRƯỜNG MẪU GIÁO HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH CÀ MAU

2.1. Khái quát quá trình khảo sát

2.1.1. Mục tiêu khảo sát

2.1.2. Nội dung khảo sát

2.1.3. Phương pháp khảo sát

2.1.4. Tổ chức khảo sát

2.2. Khái quát tình hình kinh tế-xã hội và giáo dục huyện Phú Tân, Tỉnh Cà Mau

2.2.1. Tình hình Kinh tế-Xã hội

2.2.2. Khái quát tình hình giáo dục huyện Phú Tân

2.2.3. Tổng quan về giáo dục mẫu giáo huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau

2.3. Thực trạng hoạt động phát triển ngôn ngữ cho trẻ 5 – 6 tuổi tại các trường mẫu giáo huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau

2.3.1. Thực trạng mục tiêu của hoạt động phát triển ngôn ngữ trẻ 5 – 6 tuổi ở trường mẫu giáo huyện Phú Tân, Tỉnh Cà Mau

2.3.2. Thực trạng về nội dung hoạt động phát triển ngôn ngữ trẻ 5 – 6 tuổi ở trường mẫu giáo

2.3.3. Thực trạng phương pháp và hình thức hoạt động phát triển ngôn ngữ trẻ 5 – 6 tuổi ở trường mẫu giáo huyện phú tân, tỉnh Cà Mau

2.3.4. Thực trạng sự phối hợp các lực lượng phục vụ hoạt động phát triển ngôn ngữ trẻ 5 – 6 tuổi ở trường mẫu giáo

2.3.5. Thực trạng kiểm tra, đánh giá hoạt động phát triển ngôn ngữ trẻ từ 5 – 6 tuổi

2.3.6. Thực trạng điều kiện tổ chức hoạt động phát triển ngôn ngữ trẻ từ 5 – 6 tuổi

2.4. Thực trạng quản lý hoạt động phát triển ngôn ngữ cho trẻ 5 – 6 tuổi tại các trường mẫu giáo huyện Phú Tân

2.4.1. Thực trạng quản lý mục tiêu hoạt động phát triển ngôn ngữ trẻ 5 – 6 tuổi

2.4.2. Thực trạng quản lý nội dung hoạt động phát triển ngôn ngữ trẻ 5 – 6 tuổi

2.4.3. Thực trạng quản lý phương pháp và hình thức hoạt động phát triển ngôn ngữ cho trẻ 5 – 6 tuổi

2.4.4. Thực trạng quản lý sự phối hợp các lực lượng trong hoạt động phát triển ngôn ngữ cho trẻ 5-6 tuổi

2.4.5. Thực trạng quản lý kiểm tra, đánh giá hoạt động phát triển ngôn ngữ cho trẻ 5 – 6 tuổi

2.4.6. Thực trạng quản lý các điều kiện tổ chức hoạt động phát triển ngôn ngữ trẻ 5 – 6 tuổi ở trường mẫu giáo

2.5. Đánh giá chung

2.5.1. Tồn tại, hạn chế

2.5.2. Những nguyên nhân của ưu điểm, tồn tại và hạn chế

2.6. TIỂU KẾT CHƯƠNG 2

3. CHƯƠNG 3: BIỆN PHÁP QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ CHO TRẺ 5 – 6 TUỔI TẠI CÁC TRƯỜNG MẪU GIÁO HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH CÀ MAU

3.1. Nguyên tắc đề xuất biện pháp

3.1.1. Đảm bảo tính kế thừa

3.1.2. Đảm bảo tính khả thi

3.1.3. Đảm bảo tính hiệu quả

3.1.4. Đảm bảo tính toàn diện

3.1.5. Đảm bảo tính thực tiễn

3.2. Các biện pháp quản lý hoạt động phát triển ngôn ngữ cho trẻ 5 – 6 tuổi tại các trường mẫu giáo huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau

3.2.1. Biện pháp 1: Nâng cao nhận thức cho CBQL, giáo viên về sự cần thiết của việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ 5-6 tuổi

3.2.2. Biện pháp 2: Tăng cường bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức phát triển ngôn ngữ cho đội ngũ giáo viên

3.2.3. Biện pháp 3: Nâng cao hiệu quả công tác phối hợp phát triển ngôn ngữ cho trẻ tại gia đình

3.2.4. Biện pháp 4: Tổ chức hướng dẫn giáo viên tạo môi trường cho trẻ hoạt động rèn luyện nhằm phát triển ngôn ngữ

3.2.5. Biện pháp 5: Tổ chức hướng dẫn giáo viên sử dụng thiết bị dạy học và quản lý các điều kiện hỗ trợ hoạt động phát triển ngôn ngữ

3.2.6. Biện pháp 6: Nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra, đánh giá hoạt động phát triển ngôn ngữ cho trẻ

3.3. Mối quan hệ giữa các biện pháp quản lý hoạt động trải nghiệm cho học sinh mẫu giáo

3.4. Khảo nghiệm tính khả thi và tính cấp thiết của các biện pháp đề xuất

3.4.1. Mục tiêu khảo nghiệm

3.4.2. Phương pháp khảo nghiệm

3.4.3. Nội dung khảo nghiệm

3.4.4. Kết quả khảo nghiệm

3.5. TIỂU KẾT CHƯƠNG 3

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

appendix.1. QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN (Bản sao)

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Phát Triển Ngôn Ngữ Cho Trẻ 5 6 Tuổi

Giáo dục mầm non đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển toàn diện của trẻ em, đặc biệt là lứa tuổi 5-6. Đây là giai đoạn then chốt để hình thành và phát triển các kỹ năng, trong đó phát triển ngôn ngữ là một mục tiêu hàng đầu. Ngôn ngữ là cầu nối giúp trẻ giao tiếp, khám phá thế giới xung quanh, phát triển tư duy, nhận thứctình cảm. Việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ 5-6 tuổi không chỉ giúp trẻ diễn đạt ý kiến, giao tiếp hiệu quả mà còn tạo nền tảng vững chắc cho việc học tập ở bậc tiểu học. Trẻ cần được trang bị vốn từ vựng phong phú, khả năng diễn đạt mạch lạc, phát âm chuẩn, và kỹ năng giao tiếp tự tin. Điều này đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa gia đình, nhà trường và xã hội, tạo môi trường kích thích và hỗ trợ tối đa cho sự phát triển ngôn ngữ của trẻ. Bác Hồ từng dạy: “Tiếng nói là thứ của cải vô cùng lâu đời và vô cùng quý báu của dân tộc. Chúng ta phải giữ gìn nó, tôn trọng nó”.

1.1. Tầm quan trọng của ngôn ngữ đối với trẻ 5 6 tuổi

Ở lứa tuổi 5-6, trẻ em bắt đầu hình thành các kỹ năng ngôn ngữ phức tạp hơn. Ngôn ngữ giúp trẻ biểu đạt nhu cầu, tình cảm, và hiểu biết. Nó còn là công cụ để trẻ tư duy, học tậptương tác xã hội. Một đứa trẻ có vốn từ vựng phong phú và khả năng diễn đạt tốt sẽ tự tin hơn trong giao tiếp và học tập. Theo kết quả nghiên cứu test Sẵn sàng đi học của Nguyễn Thị Hồng Nga - Viện Khoa học giáo dục, trong 4 phần của test là: Ngôn ngữ, toán, tâm vận động và giao tiếp thì ngôn ngữ của trẻ yếu hơn các mặt khác.

1.2. Mục tiêu chính của phát triển ngôn ngữ cho trẻ 5 6 tuổi

Mục tiêu chính là phát triển toàn diện các kỹ năng nghe, nói, đọc, viết. Trẻ cần có khả năng nghe hiểu, diễn đạt rõ ràng, phát âm chuẩn, và làm quen với chữ viết. Việc này giúp trẻ tự tin giao tiếp, mở rộng từ vựng, và chuẩn bị sẵn sàng cho bậc tiểu học. Cần chú trọng đến việc kích thích trẻ tham gia vào các hoạt động giao tiếp, tạo cơ hội cho trẻ luyện nóidiễn đạt ý kiến của mình. Giáo viên cần phát huy tính tích cực, tạo điều kiện cho trẻ luyện tập khả năng nói, phát âm chính xác, sử dụng từ đúng để diễn đạt ý nghĩ của mình trong các tình huống khác nhau của hoạt động ngôn ngữ và có những kỹ năng tiền đọc, tiền viết để sẵn sàng vào lớp Một.

II. Thực Trạng Phát Triển Ngôn Ngữ Cho Trẻ Tại Phú Tân

Huyện Phú Tân, Cà Mau là một huyện vùng sâu, vùng xa và đặc biệt khó khăn, ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng giáo dục nói chung và phát triển ngôn ngữ cho trẻ nói riêng. Các trường mầm non trên địa bàn còn gặp nhiều khó khăn về cơ sở vật chất, đội ngũ giáo viên và chất lượng giảng dạy. Theo đánh giá tổng kết năm học 2018 - 2019 và sơ kết năm học 2019 - 2020 của Phòng GD&ĐT Phú Tân, hiện nay các trường mẫu giáo của huyện đang còn gặp nhiều khó khăn về CSVC, đội ngũ và chất lượng của giáo viên. Tuy nhiên, với sự quan tâm của chính quyền địa phương, hoạt động giáo dục tại các trường mầm non đang dần được đầu tư và cải thiện. Nhiều trường đã triển khai và thực hiện bộ chuẩn phát triển trẻ em 5 tuổi theo thông tư 17/2009/TT-BGDĐT. Đã có rất nhiều luận văn viết về ngôn ngữ nhưng chưa có tác giả nào đi sâu tìm hiểu về quản lý hoạt động phát triển ngôn ngữ cho trẻ từ 5 đến 6 tuổi tại vùng đất Phú Tân của tỉnh Cà Mau.

2.1. Khó khăn và thách thức trong phát triển ngôn ngữ trẻ

Những khó khăn về CSVC, đội ngũ giáo viên, và điều kiện kinh tế - xã hội ảnh hưởng trực tiếp đến việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ. Nhiều trẻ em còn hạn chế về vốn từ vựng, khả năng diễn đạt, và phát âm. Theo đánh giá tổng kết năm học 2018 - 2019 và sơ kết năm học 2019 - 2020 của Phòng GD&ĐT Phú Tân, hiện nay các trường mẫu giáo của huyện đang còn gặp nhiều khó khăn về CSVC, đội ngũ và chất lượng của giáo viên. Bên cạnh đó, việc thiếu các tài liệu, phương tiện hỗ trợ giảng dạy cũng là một trở ngại lớn. Điều này đòi hỏi sự nỗ lực hơn nữa từ phía nhà trường, giáo viên, và gia đình để hỗ trợ trẻ phát triển ngôn ngữ một cách toàn diện.

2.2. Nỗ lực cải thiện chất lượng phát triển ngôn ngữ

Mặc dù còn nhiều khó khăn, các trường mầm non ở Phú Tân, Cà Mau đã có nhiều nỗ lực trong việc cải thiện chất lượng phát triển ngôn ngữ cho trẻ. Việc triển khai bộ chuẩn phát triển trẻ em 5 tuổi theo thông tư 17/2009/TT-BGDĐT đã giúp các trường có định hướng rõ ràng hơn trong việc xây dựng chương trình và phương pháp giảng dạy. Giáo viên cũng tích cực tham gia các khóa đào tạo, bồi dưỡng để nâng cao trình độ chuyên môn và kỹ năng sư phạm. Với sự quan tâm của chính quyền các cấp, hoạt động giáo dục tại các trường mẫu giáo của huyện đang dần được đầu tư, trong đó quản lý hoạt động phát triển ngôn ngữ cho trẻ cũng từng bước được nâng cao.

III. Cách Xây Dựng Môi Trường Ngôn Ngữ Cho Trẻ 5 6 Tuổi

Xây dựng môi trường ngôn ngữ phong phú và thân thiện là yếu tố then chốt để phát triển ngôn ngữ cho trẻ. Môi trường này cần kích thích trẻ giao tiếp, luyện nói, và khám phá thế giới xung quanh. Việc tạo ra các góc học tập sinh động, sử dụng các tài liệu trực quan, và tổ chức các hoạt động vui chơi bổ ích sẽ giúp trẻ hứng thú hơn với việc học ngôn ngữ. Đặc biệt, cần khuyến khích trẻ tham gia vào các hoạt động kể chuyện, đọc sách, hát đồng dao, và đóng kịch, giúp trẻ phát triển khả năng diễn đạt, tư duy, và sáng tạo.

3.1. Tạo các góc học tập ngôn ngữ sinh động

Góc học tập ngôn ngữ cần được trang trí sinh động, hấp dẫn với nhiều hình ảnh, tranh vẽ, và đồ vật quen thuộc. Các góc này có thể bao gồm góc đọc sách, góc kể chuyện, góc viết chữ, và góc vui chơi ngôn ngữ. Giáo viên nên thường xuyên thay đổi nội dung và hình thức của các góc học tập để kích thích sự tò mò và hứng thú của trẻ. Hoạt động góc cần phải được kết hợp với hoạt động chơi tập, chơi tự do để trẻ có thể sử dụng và rèn luyện ngôn ngữ của mình.

3.2. Sử dụng các tài liệu trực quan hỗ trợ phát triển ngôn ngữ

Sử dụng tranh ảnh, video, và các vật thật để minh họa các từ vựng, khái niệm, và câu chuyện. Các tài liệu trực quan giúp trẻ dễ dàng hình dung và ghi nhớ thông tin hơn. Ngoài ra, cần lựa chọn các tài liệu phù hợp với độ tuổi và trình độ nhận thức của trẻ, đảm bảo tính chính xác và khoa học. Đặc biệt là các tài liệu liên quan đến địa phương như hình ảnh các địa danh, sản vật đặc trưng của Phú Tân, Cà Mau.

IV. Phương Pháp Phát Triển Ngôn Ngữ Cho Trẻ 5 6 Tuổi Hiệu Quả

Để phát triển ngôn ngữ cho trẻ 5-6 tuổi hiệu quả, cần áp dụng các phương pháp đa dạng, phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý của trẻ. Các phương pháp này cần kích thích sự tương tác, giao tiếp, và sáng tạo của trẻ. Việc sử dụng trò chơi, kể chuyện, đọc thơ, và các hoạt động nghệ thuật giúp trẻ tiếp thu ngôn ngữ một cách tự nhiên và hứng thú. Ngoài ra, cần tạo cơ hội cho trẻ luyện nói, diễn đạt, và tham gia vào các hoạt động giao tiếp hàng ngày.

4.1. Sử dụng trò chơi ngôn ngữ để phát triển từ vựng và ngữ pháp

Các trò chơi ngôn ngữ giúp trẻ học từ vựng và ngữ pháp một cách tự nhiên và hứng thú. Các trò chơi như "Tìm từ", "Ghép câu", "Đóng vai", và "Kể chuyện tiếp sức" giúp trẻ mở rộng vốn từ vựng, rèn luyện khả năng sử dụng câu, và phát triển kỹ năng giao tiếp. Giáo viên có thể tổ chức các trò chơi này trong các hoạt động học tập hoặc vui chơi hàng ngày.

4.2. Kể chuyện và đọc thơ để phát triển khả năng diễn đạt

Kể chuyện và đọc thơ là những hoạt động giúp trẻ phát triển khả năng diễn đạt, tư duy, và sáng tạo. Giáo viên nên lựa chọn các câu chuyện, bài thơ phù hợp với độ tuổi và trình độ nhận thức của trẻ. Trong quá trình kể chuyện, đọc thơ, giáo viên nên sử dụng giọng điệu, cử chỉ, và nét mặt sinh động để thu hút sự chú ý của trẻ. Sau khi kết thúc câu chuyện, bài thơ, giáo viên nên đặt câu hỏi để kích thích trẻ suy nghĩ và diễn đạt ý kiến của mình.

V. Vai trò của Giáo Viên và Phụ Huynh Tại Phú Tân

Giáo viên và phụ huynh đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ. Giáo viên cần tạo môi trường học tập thân thiện, kích thích, và hỗ trợ trẻ phát triển ngôn ngữ một cách toàn diện. Phụ huynh cần quan tâm, tạo điều kiện cho trẻ học tậpgiao tiếp tại nhà. Sự phối hợp chặt chẽ giữa giáo viên và phụ huynh giúp trẻ phát triển ngôn ngữ một cách hiệu quả nhất.

5.1. Trách nhiệm của giáo viên trong phát triển ngôn ngữ cho trẻ

Giáo viên cần tạo môi trường học tập thân thiện, kích thích, và hỗ trợ trẻ phát triển ngôn ngữ. Giáo viên cần có kiến thức, kỹ năng sư phạm tốt, và luôn sáng tạo trong việc xây dựng chương trình, phương pháp giảng dạy. Giáo viên cũng cần quan tâm, hỗ trợ từng trẻ, đặc biệt là những trẻ gặp khó khăn về ngôn ngữ.

5.2. Vai trò của phụ huynh trong việc hỗ trợ con phát triển ngôn ngữ tại nhà

Phụ huynh cần quan tâm, tạo điều kiện cho trẻ học tậpgiao tiếp tại nhà. Phụ huynh nên thường xuyên nói chuyện, kể chuyện, đọc sách, và vui chơi cùng con. Phụ huynh cũng cần lắng nghe, khuyến khích con diễn đạt ý kiến của mình. Ngoài ra, phụ huynh nên phối hợp chặt chẽ với giáo viên để có thông tin, biện pháp hỗ trợ con phát triển ngôn ngữ một cách hiệu quả nhất.

VI. Kết Luận và Tương Lai Phát Triển Ngôn Ngữ Tại Phú Tân

Việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ 5-6 tuổi ở Phú Tân, Cà Mau là một nhiệm vụ quan trọng, đòi hỏi sự nỗ lực, tâm huyết của tất cả các bên liên quan. Với sự quan tâm của chính quyền địa phương, sự cố gắng của nhà trường, giáo viên, và sự đồng hành của phụ huynh, tin rằng hoạt động phát triển ngôn ngữ cho trẻ sẽ ngày càng được nâng cao, góp phần xây dựng một tương lai tươi sáng cho trẻ em Phú Tân.

6.1. Tổng kết những thành tựu và hạn chế

Qua quá trình nghiên cứu, khảo sát có thể thấy, các trường mẫu giáo trong huyện Phú Tân phần lớn quán triệt được tầm quan trong của việc phát triển ngôn ngữ trẻ 5-6 tuổi. Tuy nhiên vẫn còn một số trường mẫu giáo chưa đáp ứng mục tiêu phát triển ngôn ngữ cho trẻ 5-6 tuổi.

6.2. Đề xuất và kiến nghị để phát triển ngôn ngữ cho trẻ

Để công tác phát triển ngôn ngữ cho trẻ 5-6 tuổi đạt hiệu quả cao hơn nữa trong tương lai, cần có những chính sách cụ thể, đặc biệt là đầu tư về CSVC, trang thiết bị dạy học. Cần tăng cường bồi dưỡng chuyên môn cho đội ngũ giáo viên mầm non, nhất là giáo viên tại các trường vùng sâu, vùng xa của huyện Phú Tân.

27/09/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ TRẺ 5 – 6 TUỔI TẠI CÁC TRƯỜNG MẨU GIÁO 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề Trẻ em là tế bào của xã hội là tương lai cho đất nước, giáo dục mầm non chính là nền tảng cho sự nghiệp trồng người. Cây có xanh, hệ sinh thái có bền vững mới trở thành cánh rừng giàu tài nguyên của tương lai đất nước. Phát triển thể chất, thẩm mỹ, nhận thức, tình cảm và quan hệ xã hội, PTNN, trong đó lĩnh vực PTNN là lĩnh vực vô cùng quan trọng.

Ngôn ngữ của trẻ phát triển tốt sẽ giúp cho trẻ nhận thức và giao tiếp tốt góp phần to lớn vào việc hình thành và phát triển nhân cách cho trẻ. Việc PTNN tốt cho trẻ trong giao tiếp sẽ giúp trẻ dễ dàng tiếp cận với các tri thức khoa học khác như: Làm quen với môi trường xung quanh, làm quen với toán, âm nhạc.Đặc biệt là thông qua làm quen văn học trẻ được đọc thơ, kể chuyên, đóng kịch tạo cho trẻ được hoạt động nhiều, giúp trẻ khả năng phát triển trí nhớ, tư duy và ngôn ngữ, phát triển khả năng cảm thụ cái hay, cái đẹp, cái tốt cái xấu của mọi vật xung quanh. Cho trẻ làm quen với chữ cái là một quá trình sư phạm được tổ chức đặc biệt theo cách tiếp cận ngôn ngữ trọn vẹn nghĩa là tất cả các kỹ năng nghe, nói, đọc, viết đều được phát triển, trẻ làm quen với chữ cái khi được hoạt động và bị thu hút vào các hoạt động đa giác quan. Cách tiếp cận này sẽ thúc đẩy giúp trẻ phát triển trí óc, sự hiểu biết về xã hội, làm quen với chữ cái là hoạt động giúp trẻ hình thành, phát triển năng lực trong tương lai.

Có thể nói ngôn ngữ là công cụ để tư duy, để giao tiếp, là chìa khoá để con người nhận thức và phát triển năng lực. Sự PTNN diễn ra cực kỳ nhanh ở giai đoạn lứa tuổi mẫu giáo. Từ chỗ sinh ra chưa có ngôn ngữ, đến 6 tuổi chỉ trong một khoảng thời gian ngắn trẻ đã có thể sử dụng thành thạo tiếng mẹ đẻ trong sinh hoạt. Đây là giai đoạn phát cảm về ngôn ngữ, ở giai đoạn này trẻ cần có những điều kiện thuận lợi thì sau này mới có thể PTNN tốt được.

Vì vậy ngôn ngữ nói chung và ngôn ngữ của trẻ trước tuổi học là vấn đề được nhiều nhà khoa học trên thế giới và trong nước quan tâm nghiên cứu. Các nghiên cứu ở nước ngoài Từ thời cổ đại ngôn ngữ đã được quan tâm tìm hiểu, các nhà khoa học nghiên cứu ngôn ngữ trong triết học và lôgíc học nhằm phục vụ công việc truyền bá các tư tưởng tôn giáo, dân tộc. Các nhà triết học cổ đại đã coi ngôn ngữ như là một hình thức biểu hiện bên ngoài so với cái tinh thần, trí tuệ bên trong của con người. Triết gia, nhà khoa học, nhà toán học người Pháp Descartes (1596–1650) đã chỉ ra 6 những đặc tính chủ yếu của ngôn ngữ và lấy đó làm tiêu chí phân biệt con người khác với động vật.

Tác phẩm “Luận về phương pháp" xuất bản năm 1636, ông đã nhấn mạnh tính chất của ngôn ngữ, cái tín hiệu duy nhất ấy chắc chắn là của một tư duy tiềm tàng trong cơ thể và kết luận rằng "Có thể lấy ngôn ngữ làm chỗ khác nhau thực sự giữa con người và con vật" [23]. Tuy nhiên đó chỉ là những nhận thức đơn lẻ của ông trong nền khoa học nhân loại hoang sơ, mãi đến giữa thế kỷ XIX thì khuynh hướng tâm lý học mới nảy sinh trong ngôn ngữ học. Người đầu tiên sáng lập ra trường phái ngôn ngữ học tâm lý là Shteintal (1823-1899), ông đã cho ra đời học thuyết ngôn ngữ là sự hoạt động của cá nhân và sự phản ánh tâm lý dân tộc. Ông cho rằng ngôn ngữ học phải dựa vào tâm lý cá nhân trong khi nghiên cứu ngôn ngữ cá nhân, phải dựa vào tâm lý dân tộc trong khi nghiên cứu ngôn ngữ của dân tộc.

Từ quan điểm của Mác-Lênin các nhà ngôn ngữ học, tâm lý học Xô Viết đã vận dụng vào hoạt động nghiên cứu ngôn ngữ xem xét ngôn ngữ với tư cách là một hiện tượng xã hội. Ngôn ngữ thể hiện các mối quan hệ giữa người với người được quy định bởi những điều kiện cụ thể của thời kỳ lịch sử nhất định. Ngôn ngữ là hiện thực trực tiếp của tư duy và là phương tiện giao tiếp chủ yếu của con người. Các nhà nghiên cứu từ L.

Họ bắt đầu tiếp cận nghiên cứu ngôn ngữ thông qua tính chất xã hội, về mối quan hệ giữa ngôn ngữ và tư duy, sự phụ thuộc qua lại giữa các thuộc tính của ngôn ngữ. Nhà tâm lý học Xô Viết nổi tiếng Lép-Xê-Mi-Ôn-Vích Vưgốtxki là một người đi đầu trường phái, sáng lập ra thuyết: Vùng phát triển gần nhất của trẻ em. Học thuyết này dựa trên luận điểm dạy học được coi là tốt nếu nó đi trước sự phát triển và kéo theo sự phát triển. Trong cuốn: Tư duy và ngôn ngữ [30] ông cho rằng hoạt động tinh thần của con người chính là kết quả học tập mang tính xã hội chứ không phải là một học tập chỉ là của cá thể.

Theo ông, khi trẻ em tham gia vào hoạt động của người lớn và bạn bè có năng lực cao hơn, những người này sẽ thúc đẩy trẻ sớm phát triển quá trình tư duy về xã hội nhất định. Do ngôn ngữ là phương thức đầu tiên để giao tiếp nhờ nó mà con người có thể trao đổi các giá trị xã hội, L. Vưgotxki coi ngôn ngữ là vô cùng quan trọng đối với sự phát triển của tư duy. Trong cuốn Bàn về ngôn ngữ, ông đã viết: “Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của con người” [31].

Trong sự phát triển của nhân loại, ngôn ngữ là phương tiện để phát triển tư duy, là phương tiện giữ gìn, bảo tồn, truyền đạt và phát triển tri thức của loài người. Ngoài ra ngôn ngữ còn là công cụ biểu đạt tư tưởng, tình cảm, công cụ giao tiếp với nhau trong xã hội. Trong triết học Mác-Lênin, ngôn ngữ là sản phẩm của sự phát triển lịch sử xã hội. Tư duy và ngôn ngữ được hình thành và phát triển trong quá trình lao động.

7 Mọi sự hiểu biết đều bắt nguồn từ ngôn ngữ, thông qua ngôn ngữ và trở lại cũng bằng ngôn ngữ, ngôn ngữ là sự sáng tạo kỳ diệu của con người. Ngay từ khi hình thành, ngôn ngữ đã trở thành phương tiện giao tiếp cơ bản nhất, hữu hiệu nhất của cả loài người. Chúng ta, ai cũng có thể sử dụng phương tiện này để trao đổi thông tin cho nhau một cách nhanh nhất, nhiều nhất, đầy đủ nhất, từ đó có thể dễ dàng hiểu nhau, thông cảm, chia sẻ, liên kết hay hợp tác với nhau… Nhờ ngôn ngữ mà con người ở các thời đại khác nhau, các thế hệ khác nhau có thể tìm hiểu nhau hoặc giao lưu với nhau… Hơn thế ngôn ngữ là công cụ để chúng ta tư duy, là chìa khoá vạn năng thông minh nhất để chúng ta mở kho tàng tri thức khổng lồ của nhân loại để chiếm lĩnh nó, phát triển nó, đưa nó đến với mọi người… Cứ như thế con người ngày càng hoàn thiện, xã hội ngày càng văn minh, hiện đại hơn. Khi nói về ngôn ngữ, nhà giáo dục nổi tiếng người Nga E.Tikheeva đã kết luận trong cuốn Ngôn ngữ và con người rằng: "Tiếng mẹ đẻ là cơ sở phát triển trí tuệ và là nguồn gốc để chiếm lĩnh kho tàng kiến thức của dân tộc và nhân loại" [25].

Ngôn ngữ cho trẻ là vô cùng cần thiết và phải bắt đầu sớm từ (0-6 tuổi), đặc biệt là lứa 5-6 tuổi ngôn ngữ trẻ có điều kiện phát triển cực kỳ nhanh về tất cả các mặt: Ngữ âm, từ vựng và ngữ pháp mà không giai đoạn nào có thể so sánh được. Nếu chúng ta làm giáo dục mà bỏ qua giai đoạn phát cảm trong ngôn ngữ này sẽ là thiệt thòi lớn cho sự phát triển của đứa trẻ, trẻ sẽ khó theo kịp sự phát triển của các bạn cùng lứa tuổi. Các nghiên cứu trong nước Kết quả các công trình nghiên cứu đã khẳng định về tính chất quyết định luận xã hội-lịch sử của các quá trình tâm lí cấp cao ở người, Tác giả Phạm Minh Hạc, 2002a[11]. Các sản phẩm nghiên cứu tiêu biểu ra đời trong thời kì đầu tiên là: Tâm lí học, Đặc điểm tư duy của học sinh cấp I, Bước đầu nghiên cứu trí nhớ của học sinh cấp I, Một vài số liệu về kí ức máy móc của học sinh Việt Nam, Bước đầu nghiên cứu đặc điểm tâm lí học sinh cấp II, Về tính bền vững của chú ý ở học sinh cấp II, Đặc điểm ngôn ngữ của trẻ Mẫu giáo, Tìm hiểu nguyên nhân trẻ em phạm pháp và việc nghiên cứu nhân cách…Mặc dù các tài liệu này khi đó chỉ được nhìn nhận một cách khiêm tốn bởi chính các tác giả của những công trình nghiên cứu đó (các cán bộ của Tổ tâm lí-giáo dục học – ĐHSPHN; Tổ tâm lí-giáo dục học - Viện Khoa học Giáo dục), là “Để minh họa nội dung các cuốn sách Tâm lí học Lứa tuổi của Liên xô” nhưng ý nghĩa của chúng thực sự là to lớn đối với lĩnh vực nghiên cứu cơ bản trong nghiên cứu KHGD ở Việt Nam.

Bởi đã phát hiện ra một số khác biệt trong phát triển tâm lí, cụ thể ở mặt nhận thức của học sinh Việt Nam so với học sinh nước ngoài. Những phát hiện này đặt ra cho các nhà giáo dục Việt Nam nhiều vấn đề cần suy nghĩ, nghiên cứu, giải quyết. 8 Việc trẻ biết phát âm đúng tiếng mẹ đẻ, đúng ngữ pháp, biết biểu đạt ý nghĩ bằng ngôn ngữ, giao lưu là hoàn toàn có thể đạt được ở lứa tuổi 5 - 6 tuổi. Nhưng hiện nay ở các trường mẫu giáo, còn nhiều trẻ nói ngọng, không diễn đạt được bằng lời một cách mạch lạc dẫn đến việc tiếp thu bài học ở lớp 1 chậm, khó khăn, trẻ nhút nhát, sợ sệt, khó gia nhập vào các quan hệ mới với cô, với bạn.

Theo kết quả nghiên cứu test Sẵn sàng đi học của Nguyễn Thị Hồng Nga - Viện Khoa học giáo dục - Trong 4 phần của test là: Ngôn ngữ, toán, tâm vận động và giao tiếp thì ngôn ngữ của trẻ yếu hơn các mặt khác (Điểm số trung bình về ngôn ngữ chỉ đạt 53% trong khi đó: toán đạt 70%; tâm vận động: 69%, còn giao tiếp là 57%).

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ