CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ TRẺ 5 – 6 TUỔI TẠI CÁC TRƯỜNG MẨU GIÁO 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề Trẻ em là tế bào của xã hội là tương lai cho đất nước, giáo dục mầm non chính là nền tảng cho sự nghiệp trồng người. Cây có xanh, hệ sinh thái có bền vững mới trở thành cánh rừng giàu tài nguyên của tương lai đất nước. Phát triển thể chất, thẩm mỹ, nhận thức, tình cảm và quan hệ xã hội, PTNN, trong đó lĩnh vực PTNN là lĩnh vực vô cùng quan trọng.
Ngôn ngữ của trẻ phát triển tốt sẽ giúp cho trẻ nhận thức và giao tiếp tốt góp phần to lớn vào việc hình thành và phát triển nhân cách cho trẻ. Việc PTNN tốt cho trẻ trong giao tiếp sẽ giúp trẻ dễ dàng tiếp cận với các tri thức khoa học khác như: Làm quen với môi trường xung quanh, làm quen với toán, âm nhạc.Đặc biệt là thông qua làm quen văn học trẻ được đọc thơ, kể chuyên, đóng kịch tạo cho trẻ được hoạt động nhiều, giúp trẻ khả năng phát triển trí nhớ, tư duy và ngôn ngữ, phát triển khả năng cảm thụ cái hay, cái đẹp, cái tốt cái xấu của mọi vật xung quanh. Cho trẻ làm quen với chữ cái là một quá trình sư phạm được tổ chức đặc biệt theo cách tiếp cận ngôn ngữ trọn vẹn nghĩa là tất cả các kỹ năng nghe, nói, đọc, viết đều được phát triển, trẻ làm quen với chữ cái khi được hoạt động và bị thu hút vào các hoạt động đa giác quan. Cách tiếp cận này sẽ thúc đẩy giúp trẻ phát triển trí óc, sự hiểu biết về xã hội, làm quen với chữ cái là hoạt động giúp trẻ hình thành, phát triển năng lực trong tương lai.
Có thể nói ngôn ngữ là công cụ để tư duy, để giao tiếp, là chìa khoá để con người nhận thức và phát triển năng lực. Sự PTNN diễn ra cực kỳ nhanh ở giai đoạn lứa tuổi mẫu giáo. Từ chỗ sinh ra chưa có ngôn ngữ, đến 6 tuổi chỉ trong một khoảng thời gian ngắn trẻ đã có thể sử dụng thành thạo tiếng mẹ đẻ trong sinh hoạt. Đây là giai đoạn phát cảm về ngôn ngữ, ở giai đoạn này trẻ cần có những điều kiện thuận lợi thì sau này mới có thể PTNN tốt được.
Vì vậy ngôn ngữ nói chung và ngôn ngữ của trẻ trước tuổi học là vấn đề được nhiều nhà khoa học trên thế giới và trong nước quan tâm nghiên cứu. Các nghiên cứu ở nước ngoài Từ thời cổ đại ngôn ngữ đã được quan tâm tìm hiểu, các nhà khoa học nghiên cứu ngôn ngữ trong triết học và lôgíc học nhằm phục vụ công việc truyền bá các tư tưởng tôn giáo, dân tộc. Các nhà triết học cổ đại đã coi ngôn ngữ như là một hình thức biểu hiện bên ngoài so với cái tinh thần, trí tuệ bên trong của con người. Triết gia, nhà khoa học, nhà toán học người Pháp Descartes (1596–1650) đã chỉ ra 6 những đặc tính chủ yếu của ngôn ngữ và lấy đó làm tiêu chí phân biệt con người khác với động vật.
Tác phẩm “Luận về phương pháp" xuất bản năm 1636, ông đã nhấn mạnh tính chất của ngôn ngữ, cái tín hiệu duy nhất ấy chắc chắn là của một tư duy tiềm tàng trong cơ thể và kết luận rằng "Có thể lấy ngôn ngữ làm chỗ khác nhau thực sự giữa con người và con vật" [23]. Tuy nhiên đó chỉ là những nhận thức đơn lẻ của ông trong nền khoa học nhân loại hoang sơ, mãi đến giữa thế kỷ XIX thì khuynh hướng tâm lý học mới nảy sinh trong ngôn ngữ học. Người đầu tiên sáng lập ra trường phái ngôn ngữ học tâm lý là Shteintal (1823-1899), ông đã cho ra đời học thuyết ngôn ngữ là sự hoạt động của cá nhân và sự phản ánh tâm lý dân tộc. Ông cho rằng ngôn ngữ học phải dựa vào tâm lý cá nhân trong khi nghiên cứu ngôn ngữ cá nhân, phải dựa vào tâm lý dân tộc trong khi nghiên cứu ngôn ngữ của dân tộc.
Từ quan điểm của Mác-Lênin các nhà ngôn ngữ học, tâm lý học Xô Viết đã vận dụng vào hoạt động nghiên cứu ngôn ngữ xem xét ngôn ngữ với tư cách là một hiện tượng xã hội. Ngôn ngữ thể hiện các mối quan hệ giữa người với người được quy định bởi những điều kiện cụ thể của thời kỳ lịch sử nhất định. Ngôn ngữ là hiện thực trực tiếp của tư duy và là phương tiện giao tiếp chủ yếu của con người. Các nhà nghiên cứu từ L.
Họ bắt đầu tiếp cận nghiên cứu ngôn ngữ thông qua tính chất xã hội, về mối quan hệ giữa ngôn ngữ và tư duy, sự phụ thuộc qua lại giữa các thuộc tính của ngôn ngữ. Nhà tâm lý học Xô Viết nổi tiếng Lép-Xê-Mi-Ôn-Vích Vưgốtxki là một người đi đầu trường phái, sáng lập ra thuyết: Vùng phát triển gần nhất của trẻ em. Học thuyết này dựa trên luận điểm dạy học được coi là tốt nếu nó đi trước sự phát triển và kéo theo sự phát triển. Trong cuốn: Tư duy và ngôn ngữ [30] ông cho rằng hoạt động tinh thần của con người chính là kết quả học tập mang tính xã hội chứ không phải là một học tập chỉ là của cá thể.
Theo ông, khi trẻ em tham gia vào hoạt động của người lớn và bạn bè có năng lực cao hơn, những người này sẽ thúc đẩy trẻ sớm phát triển quá trình tư duy về xã hội nhất định. Do ngôn ngữ là phương thức đầu tiên để giao tiếp nhờ nó mà con người có thể trao đổi các giá trị xã hội, L. Vưgotxki coi ngôn ngữ là vô cùng quan trọng đối với sự phát triển của tư duy. Trong cuốn Bàn về ngôn ngữ, ông đã viết: “Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của con người” [31].
Trong sự phát triển của nhân loại, ngôn ngữ là phương tiện để phát triển tư duy, là phương tiện giữ gìn, bảo tồn, truyền đạt và phát triển tri thức của loài người. Ngoài ra ngôn ngữ còn là công cụ biểu đạt tư tưởng, tình cảm, công cụ giao tiếp với nhau trong xã hội. Trong triết học Mác-Lênin, ngôn ngữ là sản phẩm của sự phát triển lịch sử xã hội. Tư duy và ngôn ngữ được hình thành và phát triển trong quá trình lao động.
7 Mọi sự hiểu biết đều bắt nguồn từ ngôn ngữ, thông qua ngôn ngữ và trở lại cũng bằng ngôn ngữ, ngôn ngữ là sự sáng tạo kỳ diệu của con người. Ngay từ khi hình thành, ngôn ngữ đã trở thành phương tiện giao tiếp cơ bản nhất, hữu hiệu nhất của cả loài người. Chúng ta, ai cũng có thể sử dụng phương tiện này để trao đổi thông tin cho nhau một cách nhanh nhất, nhiều nhất, đầy đủ nhất, từ đó có thể dễ dàng hiểu nhau, thông cảm, chia sẻ, liên kết hay hợp tác với nhau… Nhờ ngôn ngữ mà con người ở các thời đại khác nhau, các thế hệ khác nhau có thể tìm hiểu nhau hoặc giao lưu với nhau… Hơn thế ngôn ngữ là công cụ để chúng ta tư duy, là chìa khoá vạn năng thông minh nhất để chúng ta mở kho tàng tri thức khổng lồ của nhân loại để chiếm lĩnh nó, phát triển nó, đưa nó đến với mọi người… Cứ như thế con người ngày càng hoàn thiện, xã hội ngày càng văn minh, hiện đại hơn. Khi nói về ngôn ngữ, nhà giáo dục nổi tiếng người Nga E.Tikheeva đã kết luận trong cuốn Ngôn ngữ và con người rằng: "Tiếng mẹ đẻ là cơ sở phát triển trí tuệ và là nguồn gốc để chiếm lĩnh kho tàng kiến thức của dân tộc và nhân loại" [25].
Ngôn ngữ cho trẻ là vô cùng cần thiết và phải bắt đầu sớm từ (0-6 tuổi), đặc biệt là lứa 5-6 tuổi ngôn ngữ trẻ có điều kiện phát triển cực kỳ nhanh về tất cả các mặt: Ngữ âm, từ vựng và ngữ pháp mà không giai đoạn nào có thể so sánh được. Nếu chúng ta làm giáo dục mà bỏ qua giai đoạn phát cảm trong ngôn ngữ này sẽ là thiệt thòi lớn cho sự phát triển của đứa trẻ, trẻ sẽ khó theo kịp sự phát triển của các bạn cùng lứa tuổi. Các nghiên cứu trong nước Kết quả các công trình nghiên cứu đã khẳng định về tính chất quyết định luận xã hội-lịch sử của các quá trình tâm lí cấp cao ở người, Tác giả Phạm Minh Hạc, 2002a[11]. Các sản phẩm nghiên cứu tiêu biểu ra đời trong thời kì đầu tiên là: Tâm lí học, Đặc điểm tư duy của học sinh cấp I, Bước đầu nghiên cứu trí nhớ của học sinh cấp I, Một vài số liệu về kí ức máy móc của học sinh Việt Nam, Bước đầu nghiên cứu đặc điểm tâm lí học sinh cấp II, Về tính bền vững của chú ý ở học sinh cấp II, Đặc điểm ngôn ngữ của trẻ Mẫu giáo, Tìm hiểu nguyên nhân trẻ em phạm pháp và việc nghiên cứu nhân cách…Mặc dù các tài liệu này khi đó chỉ được nhìn nhận một cách khiêm tốn bởi chính các tác giả của những công trình nghiên cứu đó (các cán bộ của Tổ tâm lí-giáo dục học – ĐHSPHN; Tổ tâm lí-giáo dục học - Viện Khoa học Giáo dục), là “Để minh họa nội dung các cuốn sách Tâm lí học Lứa tuổi của Liên xô” nhưng ý nghĩa của chúng thực sự là to lớn đối với lĩnh vực nghiên cứu cơ bản trong nghiên cứu KHGD ở Việt Nam.
Bởi đã phát hiện ra một số khác biệt trong phát triển tâm lí, cụ thể ở mặt nhận thức của học sinh Việt Nam so với học sinh nước ngoài. Những phát hiện này đặt ra cho các nhà giáo dục Việt Nam nhiều vấn đề cần suy nghĩ, nghiên cứu, giải quyết. 8 Việc trẻ biết phát âm đúng tiếng mẹ đẻ, đúng ngữ pháp, biết biểu đạt ý nghĩ bằng ngôn ngữ, giao lưu là hoàn toàn có thể đạt được ở lứa tuổi 5 - 6 tuổi. Nhưng hiện nay ở các trường mẫu giáo, còn nhiều trẻ nói ngọng, không diễn đạt được bằng lời một cách mạch lạc dẫn đến việc tiếp thu bài học ở lớp 1 chậm, khó khăn, trẻ nhút nhát, sợ sệt, khó gia nhập vào các quan hệ mới với cô, với bạn.
Theo kết quả nghiên cứu test Sẵn sàng đi học của Nguyễn Thị Hồng Nga - Viện Khoa học giáo dục - Trong 4 phần của test là: Ngôn ngữ, toán, tâm vận động và giao tiếp thì ngôn ngữ của trẻ yếu hơn các mặt khác (Điểm số trung bình về ngôn ngữ chỉ đạt 53% trong khi đó: toán đạt 70%; tâm vận động: 69%, còn giao tiếp là 57%).