Tổng quan nghiên cứu

Làng nghề truyền thống chạm mỹ nghệ bạc, đồng ở huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình sở hữu lịch sử hình thành hơn 600 năm, khởi phát từ năm 1428 với 149 người thợ và 7 phường cai quản. Đến nay, quy mô sản xuất toàn huyện đã mở rộng lên 1.962 hộ gia đình, 10 doanh nghiệp, 01 hợp tác xã cùng hơn 3.696 thợ lành nghề, trong đó có 6 nghệ nhân được phong tặng danh hiệu cấp quốc gia. Mặc dù đạt được những bước tiến quan trọng, làng nghề vẫn đối mặt với nhiều thách thức lớn như nguồn vốn đầu tư hạn hẹp, quy mô sản xuất nhỏ lẻ, công nghệ chế tác còn thô sơ và tình trạng ô nhiễm môi trường chưa được giải quyết triệt để.

Mục tiêu nghiên cứu trọng tâm của đề tài là hệ thống hóa cơ sở lý luận, đánh giá thực trạng kinh tế - xã hội của làng nghề chạm mỹ nghệ bạc, đồng tại Kiến Xương giai đoạn 2014 - 2016, phân tích các nhân tố ảnh hưởng và xây dựng hệ thống giải pháp phát triển bền vững giai đoạn 2017 - 2020, định hướng đến năm 2030. Không gian nghiên cứu tập trung tại các xã trọng điểm gồm Hồng Thái, Lê Lợi và Trà Giang, nơi đặt cái nôi của làng nghề chạm bạc Đồng Xâm danh tiếng.

Ý nghĩa thực tiễn của nghiên cứu gắn liền với bài toán giải quyết việc làm và chuyển dịch cơ cấu kinh tế tại địa phương có diện tích đất canh tác bình quân chỉ 0,10 ha/lao động. Phát triển nghề chạm bạc, đồng không chỉ gia tăng giá trị sản xuất toàn ngành đạt mức 178,83 tỷ đồng vào năm 2016 mà còn đảm bảo thu nhập bình quân của người lao động đạt từ 2,22 đến 2,66 triệu đồng/tháng, thúc đẩy mục tiêu giảm nghèo bền vững và giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng lý thuyết phát triển kinh tế làng nghề và lý thuyết phát triển bền vững trong nông thôn. Theo các nguyên lý kinh tế học cổ điển và quan điểm của V.I. Lênin về kinh tế tiểu nông, việc phát triển tiểu thủ công nghiệp nông thôn là quá trình tất yếu nhằm phân công lại lao động xã hội, nâng cao năng suất và tạo tiền đề chuyển đổi sang sản xuất đại công nghiệp. Bên cạnh đó, lý thuyết chuỗi giá trị và lý thuyết tổ chức thị trường được ứng dụng nhằm giải thích mối liên kết giữa các tác nhân từ cung ứng nguyên liệu, chế tác đến khâu phân phối tiêu thụ sản phẩm mỹ nghệ.

Hệ thống khái niệm chuyên ngành trong luận văn được chuẩn hóa theo quy định pháp luật hiện hành. Khái niệm nghề và bậc trình độ kỹ năng nghề căn cứ theo Luật Dạy nghề số 76/2006/QH11. Tiêu chí xác định nghề thủ công truyền thống được đối chiếu qua Nghị định số 66/2006/NĐ-CP và Nghị định số 123/2014/NĐ-CP, đòi hỏi các điều kiện nghiêm ngặt: hình thành và tồn tại tối thiểu 50 năm, sản xuất tập trung thành làng nghề, có đội ngũ nghệ nhân tài hoa và sản phẩm mang đậm bản sắc dân tộc. Nghề chạm bạc Đồng Xâm đáp ứng trọn vẹn các tiêu chí này qua 3 kỹ thuật gia truyền cốt lõi gồm chạm ám, chạm thúc và chạm thủy.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kết hợp đồng bộ giữa nguồn dữ liệu thứ cấp và dữ liệu sơ cấp. Nguồn dữ liệu thứ cấp giai đoạn 2013 - 2016 được tổng hợp từ Chi cục Thống kê huyện Kiến Xương, Sở Công thương tỉnh Thái Bình, các báo cáo chuyên đề của Phòng Nông nghiệp & Phát triển nông thôn và Quyết định số 3946/2016/QĐ-UBND tỉnh Thái Bình về quy hoạch cụm công nghiệp.

Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua phương pháp chọn mẫu phân tầng kết hợp ngẫu nhiên đại diện với quy mô 113 phiếu điều tra thực tế. Mẫu khảo sát bao gồm 83 cơ sở, doanh nghiệp và hộ gia đình trực tiếp sản xuất kinh doanh cùng 30 cán bộ quản lý chính quyền, đại diện đoàn thể và chi hội nghề nghiệp tại 3 xã Hồng Thái, Lê Lợi và Trà Giang. Cỡ mẫu này đảm bảo tính đại diện cao cho các mô hình tổ chức sản xuất từ hộ gia đình nhỏ lẻ, xưởng gia công đến doanh nghiệp có tư cách pháp nhân.

Phương pháp phân tích thông tin chủ đạo gồm thống kê mô tả, so sánh biến động tăng trưởng liên hoàn và phân tích kinh tế định lượng (doanh thu, chi phí, lợi nhuận). Phương pháp này cho phép nhận diện chính xác các điểm nghẽn về dòng vốn, công nghệ và hiệu quả chuỗi liên kết. Toàn bộ quá trình thu thập và xử lý số liệu được tác giả tiến hành từ tháng 8/2016 đến tháng 10/2017.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, giá trị sản xuất và thu nhập từ nghề chạm mỹ nghệ bạc, đồng ghi nhận mức tăng trưởng vượt trội. Giá trị sản xuất tổng sản phẩm của nghề năm 2015 đạt 147.445 triệu đồng, đến năm 2016 đã tăng lên 178.828 triệu đồng, tương ứng tỷ lệ tăng trưởng 121,28%. Tổng giá trị thu nhập của toàn ngành cũng tăng từ 88.468 triệu đồng năm 2015 lên 108.136 triệu đồng năm 2016, đạt mức tăng trưởng 122,23%.

Thứ hai, nghề truyền thống khẳng định vai trò trụ cột trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế địa phương. Tại các xã chuyên nghề như Hồng Thái, giá trị sản xuất chạm bạc, đồng chiếm từ 65% đến 70% tổng giá trị sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp. Toàn huyện duy trì hoạt động ổn định của 1.962 hộ sản xuất, 10 doanh nghiệp, 01 hợp tác xã và tạo sinh kế thường xuyên cho 3.696 người thợ cùng sự dẫn dắt của 6 nghệ nhân quốc gia.

Thứ ba, năng suất tiêu thụ hàng hóa và thu nhập của người lao động đạt mức khả quan. Khối lượng sản phẩm xuất bán ra thị trường đạt trên 56.950 sản phẩm đơn chiếc mỗi năm. Thu nhập bình quân của thợ đạt từ 2,22 đến 2,66 triệu đồng/tháng, cao hơn nhiều so với thu nhập từ sản xuất thuần nông. Đối với nhóm thợ chính có độ tuổi từ 28 đến 40 tuổi, mức thu nhập bình quân đạt từ 65 đến 70 triệu đồng/người/năm.

Thứ tư, nghiên cứu phát hiện các rào cản lớn về vốn và môi trường sản xuất. Hơn 85% cơ sở sản xuất phải vận hành bằng nguồn vốn tự có do khó tiếp cận vốn vay ngân hàng khi tỷ lệ cấp sổ đỏ đất ở còn thấp. Về công nghệ và môi trường, việc ứng dụng máy ép thủy lực thay thế công đoạn thúc thủ công mới chỉ xuất hiện cục bộ. Toàn xã Hồng Thái chỉ có duy nhất 01 hợp tác xã xử lý nước thải tẩy mạ qua giếng thẩm thấu, trong khi nhiều hộ tư nhân vẫn xả trực tiếp nước thải chứa axit H2SO4 và hóa chất xi mạ ra sông Trà Lý.

Thảo luận kết quả

Sự tăng trưởng mạnh mẽ của làng nghề xuất phát từ nhu cầu thị trường ngày càng lớn đối với các sản phẩm tâm linh, đồ đồng phong thủy và tranh mỹ nghệ cao cấp. Lợi thế kỹ thuật tinh xảo gia truyền trên 600 năm giúp sản phẩm Đồng Xâm tạo được vị thế cạnh tranh riêng biệt so với hàng đúc đồng công nghiệp.

Tuy nhiên, khi đối chiếu với các làng nghề truyền thống khác như đúc đồng Ngũ Xã (Hà Nội) hay Phước Kiều (Quảng Nam), làng nghề Kiến Xương còn bộc lộ điểm yếu lớn về tính liên kết chuỗi giá trị. Các hộ vẫn sản xuất phân tán, thiếu liên kết nhóm hộ và bị phụ thuộc nặng nề vào các đầu mối thương lái trung gian. Thực tế cho thấy giá bán lẻ đến tay người tiêu dùng cao gấp 2 đến 3 lần so với giá thu mua tại xưởng, khiến phần lớn giá trị gia tăng bị trung gian thâu tóm.

Dữ liệu nghiên cứu khi phân tích qua bảng cơ cấu chi phí (chi phí nguyên liệu kim loại chiếm hơn 65% giá thành) và biểu đồ phân bổ nguồn vốn vay đã chứng minh rằng thiếu vốn lưu động và thiếu mặt bằng tập trung tại cụm công nghiệp là nút thắt kìm hãm quy mô xưởng. Việc này giải thích vì sao sản phẩm chạm bạc Đồng Xâm dù có chất lượng và độ bền vượt trội so với các sản phẩm nhập khẩu từ Đài Loan hay Trung Quốc nhưng vẫn chưa mở rộng được thị phần xuất khẩu quốc tế tương xứng với tiềm năng.

Đề xuất và khuyến nghị

Để phát triển bền vững nghề chạm mỹ nghệ bạc, đồng tại huyện Kiến Xương, luận văn đề xuất 5 nhóm giải pháp chiến lược:

Một là, quy hoạch đồng bộ đất đai và hạ tầng cụm công nghiệp. UBND huyện Kiến Xương cần khẩn trương hoàn thiện hạ tầng các cụm công nghiệp làng nghề theo Quyết định số 3946/2016/QĐ-UBND của tỉnh Thái Bình, thực hiện di dời tối thiểu 70% các cơ sở tẩy mạ gây ô nhiễm ra khỏi khu dân cư và nâng tỷ lệ lấp đầy cụm công nghiệp lên trên 80% trước năm 2020.

Hai là, mở rộng chính sách tín dụng ưu đãi. Ngân hàng Chính sách Xã hội và các ngân hàng thương mại trên địa bàn huyện cần đơn giản hóa thủ tục thế chấp, giảm lãi suất cho vay từ 1,5% đến 2%/năm đối với các dự án đầu tư máy móc dập thủy lực, hỗ trợ giải ngân vốn vay trung hạn cho ít nhất 60% hộ sản xuất có đăng ký nhãn hiệu trong giai đoạn 2018 - 2020.

Ba là, đào tạo nguồn nhân lực và đãi ngộ nghệ nhân. Phòng Lao động - Thương binh & Xã hội phối hợp với Trung tâm Khuyến công tỉnh tổ chức các lớp truyền nghề ngắn hạn cho 300 đến 500 lao động trẻ mỗi năm; đồng thời triển khai xét phong tặng danh hiệu theo Nghị định 123/2014/NĐ-CP nhằm phát triển thêm ít nhất 5 nghệ nhân ưu tú vào năm 2020.

Bốn là, đẩy mạnh xúc tiến thương mại và xây dựng thương hiệu. Chi hội nghề chạm bạc Đồng Xâm cần phối hợp chặt chẽ với Sở Công thương nâng cấp cổng thông tin thương mại điện tử làng nghề, quản trị nhãn hiệu tập thể "Bạc Đồng Xâm" và duy trì tham gia từ 3 đến 5 hội chợ triển lãm trong và ngoài nước mỗi năm để gia tăng kim ngạch xuất khẩu.

Năm là, kiểm soát nghiêm ngặt công nghệ và vệ sinh môi trường. Phòng Tài nguyên & Môi trường huyện bắt buộc 100% cơ sở tẩy mạ kim loại phải lắp đặt bể trung hòa axit H2SO4 và xử lý nước thải khép kín, chấm dứt hoàn toàn việc xả thải trực tiếp ra hệ thống đê hữu sông Trà Lý đến cuối năm 2019.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang lại giá trị học thuật và ứng dụng thực tiễn cao cho 4 nhóm đối tượng chính:

Nhóm 1 - Cơ quan quản lý nhà nước và nhà hoạch định chính sách (Sở Công thương, Sở Nông nghiệp & PTNT tỉnh Thái Bình, UBND huyện Kiến Xương): Cung cấp hệ thống dữ liệu thực chứng và cơ sở khoa học để xây dựng quy hoạch cụm công nghiệp nông thôn, thiết lập cơ chế khuyến công và ban hành chính sách hỗ trợ làng nghề truyền thống.

Nhóm 2 - Doanh nghiệp, hợp tác xã và các hộ sản xuất kinh doanh mỹ nghệ: Giúp các chủ cơ sở nắm bắt phương pháp tối ưu hóa cơ cấu chi phí, tiếp cận kỹ thuật máy ép thủy lực hiện đại, khai thác hiệu quả nhãn hiệu tập thể "Bạc Đồng Xâm" và hoàn thiện mô hình liên kết chuỗi giá trị.

Nhóm 3 - Giảng viên, nhà nghiên cứu kinh tế và học viên cao học: Là tài liệu tham khảo giá trị về phương pháp luận nghiên cứu kinh tế làng nghề, kỹ thuật điều tra chọn mẫu phân tầng với 113 phiếu khảo sát và khung phân tích chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp - nông thôn.

Nhóm 4 - Hiệp hội nghề nghiệp và các tổ chức xúc tiến du lịch: Cung cấp góc nhìn toàn diện để xây dựng sản phẩm du lịch trải nghiệm di sản làng nghề 600 năm tuổi gắn với đền thờ tổ nghề Đồng Xâm, mở rộng kênh phân phối quà tặng lưu niệm cho khách du lịch quốc tế.

Câu hỏi thường gặp

Làng nghề chạm mỹ nghệ bạc, đồng Kiến Xương có lịch sử hình thành như thế nào? Làng nghề có lịch sử hơn 600 năm, khởi nguồn từ năm 1428 dưới thời vua Lê Thái Tổ. Cụ tổ nghề Nguyễn Kim Lâu sau khi tiếp thu kỹ thuật kim hoàn đã truyền dạy cho 149 người thợ thuộc 7 phường cai quản tại làng Đồng Xâm, đặt nền móng duy trì và phát triển thành cụm làng nghề với hơn 3.696 thợ lành nghề như hiện nay.

Hiệu quả kinh tế của nghề chạm bạc, đồng đóng góp như thế nào cho địa phương? Năm 2016, giá trị sản xuất từ nghề đạt 178,83 tỷ đồng (tăng 121,28% so với năm 2015), chiếm 65% - 70% giá trị công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp tại xã Hồng Thái. Thu nhập bình quân của người lao động đạt 2,22 - 2,66 triệu đồng/tháng, giải quyết việc làm cho gần 4.000 lao động nông thôn.

Những khó khăn lớn nhất mà các cơ sở sản xuất tại Kiến Xương đang gặp phải là gì? Khó khăn lớn nhất là thiếu vốn đầu tư dài hạn (hơn 85% cơ sở dùng vốn tự có), quy mô mặt bằng chật hẹp xen lẫn khu dân cư và liên kết chuỗi giá trị còn lỏng lẻo. Ngoài ra, việc tẩy mạ kim loại bằng axit H2SO4 thủ công chưa qua xử lý triệt để đang tạo áp lực lớn lên môi trường sông Trà Lý.

Luận văn đã sử dụng phương pháp khảo sát và phân tích dữ liệu nào? Tác giả thực hiện phương pháp chọn mẫu phân tầng với 113 phiếu điều tra thực tế, gồm 83 hộ sản xuất, doanh nghiệp và 30 cán bộ quản lý tại 3 xã Lê Lợi, Hồng Thái, Trà Giang. Dữ liệu được xử lý qua phương pháp thống kê mô tả, so sánh liên hoàn giai đoạn 2014 - 2016 và lượng hóa chi phí - lợi nhuận.

Định hướng giải pháp trọng tâm phát triển làng nghề đến năm 2020 là gì? Chiến lược tập trung vào việc hoàn thiện hạ tầng cụm công nghiệp tập trung với tỷ lệ lấp đầy trên 80%, mở rộng gói vay vốn ưu đãi, đào tạo nâng cao tay nghề cho 300 - 500 lao động mỗi năm, phát triển nhãn hiệu tập thể "Bạc Đồng Xâm" và bắt buộc 100% cơ sở tẩy mạ xử lý nước thải đạt chuẩn.

Kết luận

Tổng kết lại, công trình nghiên cứu phát triển nghề truyền thống chạm mỹ nghệ bạc, đồng ở huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình đã hoàn thành các nội dung trọng yếu sau:

  • Hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển làng nghề thủ công truyền thống trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông thôn.
  • Đánh giá khách quan thực trạng sản xuất của 1.962 hộ và 3.696 thợ, ghi nhận bước tăng trưởng ấn tượng với giá trị sản xuất đạt 178,83 tỷ đồng năm 2016.
  • Nhận diện chính xác các điểm nghẽn về vốn tín dụng, mặt bằng sản xuất phân tán, kỹ thuật dập ép thô sơ và nguy cơ ô nhiễm môi trường do hóa chất xi mạ.
  • Đề xuất hệ thống 5 nhóm giải pháp đồng bộ về quy hoạch đất đai, tín dụng ưu đãi, đào tạo nghệ nhân, phát triển thị trường và kiểm soát môi trường.
  • Xác lập lộ trình chiến lược phát triển làng nghề bền vững giai đoạn 2017 - 2020, tạo tiền đề vững chắc hướng đến tầm nhìn năm 2030.

Đóng góp cốt lõi của luận văn là cung cấp luận cứ khoa học và cơ sở dữ liệu thực nghiệm tin cậy cho các nhà hoạch định chính sách tại tỉnh Thái Bình. Các cơ quan quản lý và hiệp hội làng nghề cần khẩn trương bắt tay triển khai các đề án quy hoạch cụ thể ngay trong giai đoạn 2018 - 2020. Quý độc giả, chuyên gia và các đơn vị sản xuất quan tâm hãy khai thác sâu các phát hiện của công trình này để chung tay bảo tồn và phát triển tinh hoa nghề truyền thống Việt Nam.