Chương 1: Tổng quan về ngành chè. Chương 2: Thực trạng sản xuất chè Việt Nam. Chương 3: Một số giải pháp nhằm phát triển ngành chè Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. z CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ NGÀNH CHÈ 1.
KHÁI QUÁT VỀ TÌNH HÌNH SẢN XUẤT CHÈ TRÊN THẾ GIỚI 1. Lịch sử ra đời và phát triển ngành chè Cây chè là cây có nguồn gốc từ Trung Quốc và đã được truyền bá ra khắp thế giới. Nó có lịch sử từ rất lâu đời, từ khi phát hiện, sử dụng, truyền bá và phát triển đến nay đã có gần 4000 năm. Do đặc tính sinh trưởng, sự giao lưu văn hoá giữa các dân tộc nên cây chè đã du nhập vào các nước trên thế giới từ khoảng 3000 năm trước.
Các nước trên thế giới đã học được cách trồng và chế biến của người Trung Quốc để phát triển các vườn chè trồng phân tán rải rác và hái lá để uống. Đến những năm cuối của thế kỷ XX thì ngành chè thực sự phát triển, đã có trên một nửa dân số thế giới uống chè. Với thị hiếu tiêu dùng, tập quán sinh hoạt, văn hoá và kinh tế mà nhu cầu về sở thích tiêu dùng ở các nước và khu vực khác nhau cả về số lượng và các chủng loại chè. Chẳng hạn ở các nước phát triển ở Tây Âu và Mỹ có tập quán uống chè với đường và sữa nên rất coi trọng các loại chè có màu đỏ tươi sáng, vị nồng mạnh, đậm đà, ngọt mát, hàm lượng chất tan không quá 32%.
Do nhịp sống xã hội khẩn trương nên họ ưa thích các loại chè tan nhanh tiện lợi như chè mảnh CTC, chè bột, chè túi nhúng. Vì vậy trong những năm gần đây nhu cầu về chè túi nhúng tăng nhanh ở các nước này. Người Anh có lịch sử uống chè trên 30 năm. Tại đây uống chè đã trở thành phong cách và tập quán.
Còn ở các nước Đông Âu, Nga và Trung Đông có tập quán uống chè nóng pha với nước đun sôi nên người tiêu dùng khu vực này quan tâm nhiều hơn đến chè đen được sản xuất theo quy trình OTD chúng có màu sắc đỏ, hương vị nồng. Ở Nhật Bản là nước sản xuất chè đứng thứ 6 trên thế giới về sản lượng nhưng cũng là nước nhập khẩu chè tương đối lớn vì sản xuất trong nước không đủ cho tiêu dùng. Đây là thị trường lớn nhưng đòi hỏi khắt khe về chất lượng. Vì thế, để đáp ứng được nhu cầu thị hiếu người tiêu z dùng đòi hỏi các nhà sản xuất của các nước trên thế giới luôn phải thay đổi phương thức sản xuất nhằm phát triển ngành chè.
Sản xuất chè trên thế giới. Trên thế giới có rất nhiều loại chè khác nhau. Có thể chia sản phẩm chè thành các loại khác nhau như sau: Chè xanh: Được chế biến và được phân thành 6 loại. Đặc biệt OP; P; BPS và F.
Chè xanh đặc biệt: Có màu xanh tự nhiên, cánh dài, xoắn chặt, có tuyết Chè OP: Cánh dài xanh tự nhiên, xoăn đều Chè xanh P: Cánh xanh, ngắn hơn OP, tương đối xoăn. Chè xanh BP: Xanh tự nhiên, có mảnh gẫy, cánh nhỏ hơn P, tương đối xoăn. Chè xanh F: Có màu vàng xám, nhỏ và tương đối đều Chè đen: Bao gồm có 2 loại chính sau là chè đen CTC và OTD. Chè đen CTC gồm có 5 loại: BOP, BP, OF, PF, D.
Chè đen BOP: Đen tương đối nâu, lọt sàng từ 10-14, đồng đều, nước đỏ nâu có viền vàng Chè đen BP: Đen tương đối nâu, lọt sàng từ 14-24, đồng đều, nước đỏ nâu đậm có viền vàng. Chè đen OF: Đen tương đối nâu, nhỏ, lọt sàng từ 24-40, nước đỏ nâu đậm. Chè đen PF: Đen tương đối nâu, nhỏ lọt đều, lọt sàng 40-50, nước đỏ nâu đậm. Chè đen D: Đen tương đối nâu, nhỏ đều, sạch, lọt sàng 50, nước đỏ nâu tối.
Chè đen OTD gồm có 7 loại: BOP, FBOP, P, PS, BPS, F và D. BOP: Xoăn, tương đối đồng đều, đen tự nhiên, có ít tuyết, nước màu nâu đỏ sáng có viền vàng FBOP: Nhỏ, có mảnh gẫy của OP và P, có ít tuyết. P: Tương đối xoăn đều, có lẫn mảnh gẫy của PS; nước có màu đỏ nâu sáng, có viền vàng. z PS: Tương đối đều, màu đen nâu, có lẫn mảnh nâu, nước có màu đỏ nâu.
BPS: tương đối đều, có lẫn mảnh gẫy của PS, màu đen nâu, nước có màu đỏ nâu nhẹ. F: Nhỏ đều, đen nâu, nước có màu đỏ nâu đậm. Chè ướp hương: Đây là loại chè được ướp với các loại hương như hương nhài, hương sen, hương ngâu. Chè hoà tan, túi lọc: Được ưa chuộng ở Phương Tây Chè sâm, chè chữa bệnh.
Trên đây là một số loại chè chính được sản xuất và tiêu dùng trên thế giới. Trong đó có 2 loại chủ yếu là chè CTC và OTD còn các loại khác chiếm tỷ lệ không đáng kể. Tỷ lệ chè CTC và OTD được sản xuất ra trên thế giới là 60: 40. Đối với vùng Nam Á thì tỷ lệ này là 70:30 còn với Việt Nam thì tỷ lệ này là 10: 90 vì một số bạn hàng của Việt Nam như Thổ Nhĩ Kỳ, Nga, I-rắc, Iran lại rất thích các loại chè đen OTD.
Chỉ có một số nước như Nhật Bản, Đài Loan và một số nước Châu Á khác là ưa thích loại chè xanh. - Năng suất, sản lượng, diện tích chè của một số nước trên thế giới: Hiện nay có 39 nước trồng chè với diện tích 2.5 triệu ha và sản xuất lượng hàng năm biến động trên dưới 2 triệu tấn. Năng suất bình quân chưa vượt tới 4 tấn/ha. Nước có sản lượng cao nhất hiện nay là Ấn Độ với sản lượng bình quân 1 năm là 300 nghìn tấn chè khô.
Đây là nước có tốc độ tăng cao nhất trong vòng từ năm 2000-2005, kế tiếp đó là Trung Quốc 220 nghìn tấn, Srilanca 120 nghìn tấn. Năm nước có diện tích trồng chè lớn nhất là Trung Quốc, Ấn độ, Srilanca, Thổ Nhĩ Kỳ và Indonesia đã chiếm 75% diện tích trồng chè trên thế giới, nước nhỏ nhất trong làng chè là Camơrun. Do áp dụng kỹ thuật mới cũng như giống mới và mật độ trồng dày nên đã có hàng chục nước đưa năng suất bình quân đạt năng suất 2. Đứng đầu nhóm các nước có năng suất chè cao đó là Kênya, tiếp theo đó là Ấn Độ, Srilanca.
z Diện tích chè trên thế giới biến động bởi chỉ có những nước có điều kiện thiên nhiên ưu đãi mới có thể trồng và phát triển được cây chè. Về phân bố diện tích thì 12 nước Châu Á chiếm khoảng 88%, Châu Phi là 8% (12 nước) và Nam Mỹ chiếm 4% (4 nước). Như vậy chè chủ yếu được trồng ở Châu Á và đây là cái nôi để phát triển cây chè với mọi điều kiện đất đai khí hậu phù hợp với sinh trưởng của cây chè. - Về thị trường chè thế giới: Diễn biến cung cầu: - Cung: Năm 2005 sản lượng chè thế giới ước đạt 3,253 triệu tấn, tăng 1.5% (tương đương với 42 nghìn tấn) so với cùng kỳ năm 2004, trong đó nhóm nước sản xuất và xuất khẩu chè chủ yếu tăng 30 nghìn tấn và nhóm các nước khác tăng khoảng 12 nghìn tấn.
Thị trường cung chè vẫn tiếp tục tập trung vào một số nước sản xuất lớn như Ấn Độ, Srilanca, Kênya, Trung Quốc, Inđônêsia. Riêng 5 nước này đã chiếm trên 85% sản lượng chè thế giới. - Cầu: Năm 2005, mức tiêu thụ chè thế giới đạt 3,125 triệu tấn. Trong đó nhóm 5 nước tiêu thụ chủ yếu vẫn là Ấn độ, Anh, Pakistan, CIS và Hoa Kỳ.
- Giá chè trên thế giới: Từ năm 1997 trở lại đây có xu hướng cung vượt quá cầu. Số lượng xuất khẩu cao hơn nhập khẩu. Các nước nhập khẩu lớn đều giảm số lượng chè đen nhập khẩu. Do cung có xu hướng vượt cầu nên giá bình quân tính theo đồng USD ở hầu hết các thị trường đấu gía đều giảm nhưng không đáng kể.
Theo cơ quan nông lương Liên Hiệp Quốc cho hay giá chè thế giới chỉ giảm 2% trong các năm từ năm 1993-1995 và 2001-2003.1: Giá chè bình quân trên thế giới Năm 2001 2002 2003 2004 2005 Giá (USD/kg) 1.82 ( Nguồn: Thời báo kinh tế Việt Nam-năm 2005) z * Tiêu thụ và nhập khẩu: Tốc độ tiêu thụ chè đen toàn cầu trong giai đoạn 2003-2014 dự báo chỉ sẽ đạt 1.2%/năm so với mức tăng 2.2%/năm của giai đoạn 1993-2003, đạt 2.67 triệu tấn vào năm 2014. Mức tăng tiêu thụ giảm mạnh tại các nước sản xuất do mức tăng sản lượng thấp hơn nhu cầu tạo nguồn hàng xuất khẩu. Lượng tiêu thụ nội địa chè đen tại các nước sản xuất dự báo sẽ tăng khoảng 1.33 triệu tấn vào năm 2014. Tỷ trọng các nước sản xuất trong tổng mức tiêu thụ chè đen toàn cầu dự báo sẽ giảm từ 52% năm 2005 xuống còn 49% trong năm 2014.
Mức tiêu thụ tăng lên chủ yếu ở các nước viễn đông trong khi các nước sản xuất chè ở Châu Phi tăng 1.7% nghìn tấn vào năm 2014, tức là khoảng 80% sản lượng nội địa. Tiêu thụ của Indonesia dự báo sẽ tăng 1.6%/năm, đạt 57 nghìn tấn trong khi tiêu thụ nội địa của Băngladet và Xrilanca tăng 3. Nhập khẩu ròng chè đen toàn cầu dự báo sẽ tăng 1.34 triệu tấn vào năm 2014, trong đó nhập khẩu của các nước CIS (chủ yếu là Nga) và Pakistan đạt mức tăng tương ứng 3.4%/năm, lên tới 342 nghìn tấn và 120.3 nghìn tấn vào năm 2014. Nhập khẩu vào EU giảm nhẹ do mức tăng nhập khẩu của Đức, Hà lan và Pháp không đủ bù đắp mức giảm nhập khẩu mạnh của Anh.
Trong những năm gần đây theo Tổ chức nông lương Liên hợp quốc( FAO) thì có 2 khu vực đó là các nước phát triển và các nước đang phát triển cùng tham gia nhập khẩu chè, khu vực các nước phát triển nhập khẩu chè hàng năm nhiều hơn các nước đang phát triển. Năm 2005 tổng lượng chè nhập khẩu của thế giới là 2.500 nghìn tấn trong đó các nước phát triển 1.500 nghìn tấn và các nước đang phát triển nhập 1.000 nghìn tấn chè. Các nước phát triển nhập khẩu nhiều chè là: Các nước thuộc SNG, Mỹ, Nhật và Anh, còn các nước đang phát triển nhập khẩu nhiều chè là: I-ran, I-rắc, Pakistan, Ai Cập. Năm 2005 nhập khẩu chè vẫn gia tăng ở Anh, Ai Cập, Mỹ với tốc độ thấp.
Trong khi đó ở Nga là nước z nhập khẩu chè lớn nhất cũng bị giảm sút. Điều này làm cho tổng nhu cầu nhập khẩu trên thế giới giảm giảm khoảng 3% so với năm 2004.