Chương 1: Cơ sở lí luận về tổ chức hoạt động phát triển năng lực xây dựng mối quan hệ giữa nhà trường, gia đình và xã hội cho giáo viên theo chuẩn nghề nghiệp tại trường THCS Yên Hòa, Cầu Giấy, Hà Nội. Chương 2: Thực trạng tổ chức hoạt động phát triển mối quan hệ giữa nhà trường, gia đình và xã hội cho giáo viên theo chuẩn nghề nghiệp tại trường THCS Yên Hòa, Cầu Giấy, Hà Nội. Chương 3: Biện pháp tổ chức hoạt động phát triển mối quan hệ giữa nhà trường, gia đình và xã hội của giáo viên theo chuẩn nghề nghiệp tại trường THCS Yên Hòa, Cầu Giấy, Hà Nội. 6 z CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC XÂY DỰNG MỐI QUAN HỆ GIỮA GIA ĐÌNH - NHÀ TRƢỜNG - XÃ HỘI CHO GIÁO VIÊN THEO CHUẨN NGHỀ NGHIỆP TẠI TRƢỜNG THCS YÊN HÒA, CẦU GIẤY, HÀ NỘI 1.
Tổng quan nghiên cứu vấn đề Trong giáo dục học sinh, sự phối hợp giáo dục giữa nhà trường, gia đình và xã hội và năng lực xây dựng mối quan hệ giáo dục này ở giáo viên rất quan trọng. Đã có một số các nghiên cứu khoa học về vấn đề này tuy nhiên số lượng còn ít thể hiện trong các chỉ thị, các nghiên cứu khoa học, các bài báo khoa học như: Quản lý hoạt động giáo dục đạo đức trong bối cảnh quan hệ phối hợp nhà trường, gia đình và xã hội ở trường trung học cơ sở Tả Thanh Oai, Thanh Trì, Hà Nội; Nguyễn Văn Trung (2013), Sự phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong quản lý hoạt động chăm sóc giáo dục trẻ em- Phí Hải Nam, Quản lí sự phối hợp giữa gia đình nhà trường và xã hội, giáo dục trong công tác giáo dục học sinh ở các trường THPT huyện Cần Đước, tỉnh Long An của Hồ Văn Thơm [22]; - Các nghiên cứu trong lĩnh vực quản lý giáo dục tập trung nghiên cứu các năng lực nghề nghiệp của giáo viên trung học cơ sở nói chung chứ chưa đi sâu vào năng lực xây dựng mối quan hệ giữa nhà trường, gia đình và xã hội, và hoàn toàn chưa nghiên cứu đánh giá nó theo chuẩn nghề nghiệp - Chủ yếu các nghiên cứu đề cập đến việc tổ chức mối quan hệ hoặc phối hợp quản lý mối quan hệ nhà trường, gia đình và xã hội trong giáo dục học sinh. - Nghiên cứu trực tiếp năng lực xây dựng mối quan hệ nhà trường, gia đình và xã hội để từ đó phát triển năng lực này ở giáo viên trung học cơ sở chưa nhiều, chưa sâu Vì vậy việc lựa chọn đề tài “Tổ chức hoạt động phát triển năng lực xây 7 z dựng mối quan hệ nhà trường, gia đình và xã hội cho giáo viên THCS Yên Hòa, thành phố Hà Nội theo chuẩn nghề nghiệp” đã xác định được điểm mới trong lĩnh vực quản lý giáo dục và kết quả nghiên cứu đã đưa ra được các biện pháp ở góc độ quản lý của nhà quản lý nhà trường phát triển năng lực này cho giáo viên. Một số khái niệm cơ bản của đề tài 1.
Tổ chức - Theo Chester I. Barnard, thì tổ chức là một hệ thống những hoạt động hay nỗ lực của hai hay nhiều người được kết hợp với nhau một cách có ý thức. - Khoa học tổ chức và quản lý định nghĩa tổ chức với ý nghĩa hẹp là tập thể của con người tập hợp nhau lại để thực hiện một nhiệm vụ chung hoặc nhằm đạt tới một mục tiêu xác định của tập thể đó 1. Phát triển Là một phạm trù của triết học, là quá trình vận động tiến lên từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn của một sự vật.Sự vật muốn phát triển phải có mâu thuẫn.
Giải quyết mâu thuẫn nhất là mâu thuẫn khách quan vốn có của sự vật hiện tượng chính là tạo điều kiện cho sự vật phát triển 1. Năng lực và Phát triển năng lực xây dựng mối quan hệ giữa nhà trường, gia đình và xã hội cho giáo viên 1. Năng lực Là tổng hợp các đặc điểm, thuộc tính tâm lý của cá nhân phù hợp với yêu cầu đạc trưng của một hoạt động, nhất định nhằm đảm bảo cho hoạt động đó đạt hiệu quả cao. Các năng lực hình thành trên cơ sở của các tư chất tự nhiên của cá nhân nó đóng vai trò quan trọng, năng lực của con người không phải hoàn toàn do tự nhiên mà có, phần lớn do công tác, do tập luyện mà có.
Từ điển Tiếng Anh có 3 từ chỉ khái niệm năng lực: Ability: năng lực theo nghĩa có khả năng cho phép cá nhân thực hiện hoạt động về thể chất và 8 z tinh thần; Capacity: năng lực theo nghĩa có khả năng tạo ra cái gì, làm được, hiểu được, học được trong điều kiện khó khăn; Competence: năng lực theo nghĩa có khả năng thực hiện công việc. Vì vậy cũng có rất nhiều cách hiểu về năng lực. Có thể nêu ra một số quan niệm: Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế Thế giới (OECD): “Năng lực là khả năng đáp ứng một cách hiệu quả những yêu cầu phức hợp trong một bối cảnh cụ thể”. Forgues - Savage và Wong (2010): Năng lực được xem là những kiến thức, kĩ năng, phẩm chất và hành vi của nhân viên được thể hiện trong công việc và liên quan chặt chẽ với yêu cầu cấp độ mà tổ chức đơn vị đặt ra để thực hiện tốt công việc của các cá nhân.
Jackson và Schuler (2003): Năng lực được hiểu là những kĩ năng, kiến thức, khả năng và những đặc điểm khác của người lao động để có thể thực hiện hiệu quả yêu cầu công việc. Peaple Soft (2010): Năng lực được xem như tập hợp của những kiến thức, kĩ năng và hành vi có thể đo lường, quan sát được để đóng góp cho sự thành công của công việc. Gartner Group (2009): Năng lực là tập hợp của những kiến thức, kĩ năng, phẩm chất được xem như là nguyên nhân mang lại kết quả công việc của người lao động. Parry (1996): Năng lực là một tập hợp các kiến thức, kĩ năng, thái độ liên quan với nhau, có ảnh hưởng tới khả năng hoàn thành công việc hay hiệu suất của một cá nhân, có thể đo lường thông qua các chuẩn mà cộng đồng chấp nhận và có thể được cải tiến thông qua các hoạt động đào tạo, bồi dưỡng.
Với điểm chung xác định như trên năng lực được hiểu là tổ hợp các kiến thức, kĩ năng, phẩm chất, thái độ của con người, đảm bảo cho con người hoàn thành có hiệu quả công việc, hoạt động mà cá nhân đang tiến hành. Phát triển năng lực xây dựng mối quan hệ giữa nhà trường, gia đình và XH Xây dựng được hiểu trong luận văn bao gồm các nội dung: a) Hình thành mối quan hệ mới; b) Phát triển mối quan hệ cũ mạnh hơn; c) Phối hợp các mối quan hệ tốt hơn, trong đó nhấn mạnh nội hàm phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội để làm tốt hơn công tác giáo dục học sinh trong nhà trường. Theo từ điển Tiếng Việt thông dụng của Nhà xuất bản Giáo dục (2002) thì phối hợp là cùng chung góp, cùng hành động ăn khớp để hỗ trợ cho nhau Xây dựng mối quan hệ giữa nhà trường, gia đình và xã hội là hoạt động có mục đích, sự hợp tác, cùng thống nhất hành động và hỗ trợ nhau thực hiện nhiệm vụ giáo dục học sinh trong và ngoài nhà trường. Phát triển năng lực xây dựng mối quan hệ giữa gia đình, nhà trường và xã hội là việc làm cần thiết.
Mối quan hệ gắn bó này sẽ tạo nên sự nỗ lực cố gắng của đội ngũ giáo viên, các bậc phụ huynh, các lực lượng xã hội trong việc giáo dục học sinh mang lại kết quả tốt nhất. Quá trình chăm sóc, giáo dục học sinh từ việc xây dựng kế hoạch đến tổ chức thực hiện, kiểm tra đánh giá, nếu có tất cả các lực lượng tham gia cùng bàn bạc thống nhất sẽ tạo nên sức mạnh tổng hợp giúp quá trình giáo dục đạt tới thành công. Quá trình giáo dục học sinh bao gồm tác động của nhiều yếu tố khách quan và chủ quan, trong đó gia đình, nhà trường và xã hội là 3 lực lượng có vai trò quyết định, mỗi lực lượng có những cách thức tác động tới HS, giáo dục học sinh khác nhau. Nhà trường: Nhà trường là một cơ sở giáo dục có chức năng đào tạo con người về trí dục đức dục và thể dục Nhiệm vụ nhà trường là tạo ra những sản phẩm người có học thức và có văn hoá, nhà trường thực hiện nhiệm vụ của mình thông qua quá trình tổ chức các hoạt động Các lực lượng tham gia giáo dục học sinh bao gồm cán bộ quản lí (Ban 10 z giám hiệu) đứng đầu là hiệu trưởng chịu trách nhiệm quản lí toàn diện các hoạt động trong nhà trường và chịu trách nhiệm chính trong việc phối hợp các lực lượng trong và ngoài nhà trường giáo dục học sinh.
Giáo viên trong đó có giáo viên chủ nhiệm lớp là lực lượng nòng cốt có trách nhiệm vừa thực hiện nhiệm vụ giảng dạy, nhiệm vụ giáo dục học sinh đồng thời trực tiếp phối hợp chặt chẽ với gia đình học sinh, các giáo viên bộ môn khác, các tổ chức chính trị trong nhà trường và các tổ chức xã hội có liên quan trong việc hỗ trợ giám sát việc học tập của học sinh và giáo dục học sinh. Điều 93 Luật giáo dục. “Trách nhiệm của nhà trường: nhà trường có trách nhiệm chủ động phối hợp giữa gia đình và xã hội để thực hiện mục tiêu và nguyên lí giáo dục” [17]. Gia đình là nền tảng của xã hội.
gia đình là nơi đầu tiên hình thành và phát triển nhân cách cho mỗi con người. Gia đình hạnh phúc mọi người yêu thương quý mến nhau giúp đỡ nhau nhân cách của mỗi cá nhân được bồi đắp, phát triển lành mạnh. Giáo dục gia đình là sự phối hợp nhiều mặt mang tính thực tiễn cao, là cầu nối của trẻ em đối với xã hội bên ngoài. Nhiệm vụ của giáo dục gia đình tuân theo mục đích giáo dục toàn diện cho trẻ em thông qua các nội dung: giáo dục trí tuệ, giáo dục đạo đức, giáo dục thẩm mĩ, giáo dục thể chất, giáo dục lao động –hướng nghiệp.
Gia đình giữ vai trò chủ động phối hợp với nhà trường (có mặt đủ các buổi họp phụ huynh học sinh, gặp gỡ giáo viên chủ nhiệm lớp.) trong giáo dục học sinh.