Chương 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Những nghiên cứu về năng lực và năng lực ngôn ngữ 1. Những nghi n c u về năng lực Trên thế giới có khá nhi u định nghĩa v năng lực. Ở đây, chúng tôi xin tr ch dẫn lại khái niệm v năng lực của Wikipedia: “Năng lực là một tiêu chuẩn đòi hỏi ở một cá nhân khi thực hiện một công việc cụ thể.
Nó bao gồm sự vận dụng tổng hợp các tri thức, kĩ năng và hành vi ứng xử trong thực hành. Nói một cách khái quát, năng lực là một trạng thái hoặc một phẩm chất, một khả năng tƣơng xứng để có thể thực hiện một công việc cụ thể” [110] Tuy có nhi u cách trình bày khác nhau v năng lực từ các nhà giáo dục học; tâm l học; các chƣơng trình dạy học ở các trƣờng, các bang trên thế giới nhƣng tất cả đ u thống nhất ở chỗ năng lực là một khái niệm phức hợp với sự kết hợp một cách linh hoạt và có tổ chức các “nguồn lực” : kiến thức, kĩ năng, thái độ, giá trị, động cơ, … nhằm hoạt động có hiệu quả trong bối cảnh nhất định. Năng lực (competency) là một khái niệm có nguồn gốc từ tiếng Latinh “competentia”. Thuật ngữ năng lực trong ngôn ngữ học gắn với tên tuổi của nhà ngữ học danh tiếng Noam Chomsky.
Xuất hiện lần đầu trong cuốn sách “Aspects of the Theory of Syntax” (1965) để giới thiệu v ngữ pháp tạo sinh, năng lực đƣợc Chomsky định nghĩa nhƣ kiến thức ngôn ngữ của ngƣời nói-ngƣời nghe. Dựa trên cặp lƣỡng phân ngôn ngữ - lời nói của Saussure, Chomsky phân biệt năng lực (competency) và thực thi (performance). Trong đó thực thi đƣợc xem nhƣ sự sử dụng ngôn ngữ trong những cảnh huống chân thực, tự nhiên. Phần lớn định nghĩa v NL của các tài liệu nƣớc ngoài quy NL vào phạm trù khả năng (ability, capacity, possobility): - Tổ chức các nƣớc kinh tế phát triển (OECD) đƣa ra khái niệm v năng lực nhƣ sau: “Năng lực là khả năng cá nhân đáp ứng các yêu cầu phức hợp và thực hiện thành công nhiệm vụ trong một bối cảnh cụ thể” [dẫn theo 40, tr.
Weinert, năng lực là “tổng hợp các khả năng và kĩ năng sẵn có hoặc học đƣợc cũng nhƣ sự sẵn sàng của HS nhằm giải quyết những vấn đ nảy sinh và hành động một cách có trách nhiệm, có sự phê phán để đi đến giải pháp” [dẫn theo 40, tr. - Denyse Tremblay cho rằng NL là “khả năng hành động, thành công và tiến bộ dựa vào việc huy động và sử dụng hiệu quả tổng hợp các nguồn lực để đối mặt với các tình huống trong cuộc sống” [dẫn theo 40, tr. Việc giải th ch NL (competency) bằng khái niệm khả năng (ability, capacity, 7 possobility) không thật ch nh xác. Theo từ điển Tiếng Việt, khả năng là “1.
Cái có thể xuất hiện, có thể xảy ra trong đi u kiện nhất định. Dự kiến các khả năng. Bão có khả năng đổ bộ vào đất li n. Cái vốn có v vật chất hoặc tinh thần để có thể làm đƣợc việc gì.
Ngƣời có khả năng, Việc làm hợp khả năng. Sử dụng tốt mọi khả năng đất đai. [dẫn theo 40, tr. Nhƣ vậy, dù theo nghĩa 1 hay nghĩa 2 thì cũng không nên quy NL vào phạm trù khả năng vì con ngƣời có năng lực trong một lĩnh vực nào đó chắc chắn sẽ thực hiện thành công loại hoạt động tƣơng ứng; trong khi khả năng là cái tồn tại ở dạng ti m năng, có thể biến thành hiện thực hoặc ngƣợc lại.
Tuy nhiên, thuật ngữ khả năng của các tác giả nƣớc ngoài luôn đi kèm các cụm từ “đáp ứng một cách hiệu quả”, “hành động hiệu quả”, “hành động, thành công và tiến bộ”, “đi đến giải pháp”. Ở Việt Nam, v khái niệm năng lực, các nhà nghiên cứu chủ yếu tổng kết lại quan điểm của các chƣơng trình giáo dục trên thế giới. Đỗ Ngọc Thống đã chỉ ra điểm thống nhất trong cách hiểu v bản chất của khái niệm năng lực: “Năng lực là sự tổng hợp của nhi u yếu tố (kiến thức, kĩ năng, thái độ, tình cảm, ý chí, kinh nghiệm và nhi u nguồn lực tinh thần khác; năng lực tức là phải có khả năng thực hiện, phải thông qua làm, qua hành động để đo đếm và năng lực là phải t nh đến hiệu quả của việc vận dụng kiến thức, kĩ năng, kinh nghiệm và hiểu biết. nhằm giải quyết các vấn đ đặt ra trong cuộc sống.7] - Tài liệu hội thảo chƣơng trình giáo dục phổ thông tổng thể trong chƣơng trình giáo dục phổ thông mới của Bộ Giáo dục và Đào tạo xếp NL vào phạm trù hoạt động “NL là sự huy động tổng hợp các kiến thức, kĩ năng và các thuộc t nh cá nhân khác nhƣ hứng thú, ni m tin, ý ch ,.
để thực hiện một loại công việc trong một bối cảnh nhất định” [dẫn theo 40, tr. - Theo Từ điển Tiếng Việt: NL là “phẩm chất tâm l và sinh l tạo cho con ngƣời khả năng hoàn thành một loại hoạt động nào đó với chất lƣợng cao”[73, tr. Tác giả Phạm Minh Hạc cho rằng: "NL là một tổ hợp tâm lý của một ngƣời, tổ hợp này vận hành theo một mục đ ch nhất định tạo ra kết quả của một hoạt động nào đấy". Tiếp cận từ một góc độ khác, Đặng Thành Hƣng [40] xác định NL đƣợc cấu thành từ những bộ phận cơ bản sau: (1) Tri thức v HĐ hay quan hệ đó.
(2) Kĩ năng tiến hành hoạt động hay xúc tiến ứng xử với quan hệ nào đó.(3) Những đi u kiện tâm lý để tổ chức và thực hiện tri thức kĩ năng nào đó trong một cơ cấu thống nhất và theo một định hƣớng rõ ràng. Tƣơng ứng với các bộ phận đó có 3 NL chuyên biệt: NL biết (nhận thức), NL làm (ý ch ), NL biểu cảm (tình cảm). Tiếp cận từ phƣơng diện dạy học, tác giả Nguyễn Minh Thuyết cũng khẳng 8 định: “NL là sự t ch hợp của nhi u thành tố nhƣ kiến thức, kĩ năng, sự sẵn sàng hoạt động, khả năng hợp tác, khả năng huy động những nguồn thông tin mới của HS để giải quyết những vấn đ đặt ra trong cuộc sống.” Nhƣ vậy, tuy mỗi hƣớng tiếp cận đ u có những cách định nghĩa khác nhau v NL, nhƣng điểm chung giữa các luồng ý kiến đó là sự xác nhận: NL là khả năng làm chủ hệ thống kiến thức, kĩ năng, đi u kiện tâm l mà ngƣời học đã đƣợc trang bị, đồng thời biết vận dụng chúng một cách linh hoạt để giải quyết thành công các tình huống cụ thể. Cụ thể hóa khái niệm NL trong chƣơng trình giáo dục, các nhà giáo dục học ở In- đô-nê-sia đƣa ra 4 yêu cầu cần đạt đƣợc đối với ngƣời học: a) Năng lực đ cập đến khả năng của HS khi làm một cái gì đó trong những bối cảnh khác nhau; b) Năng lực thể hiện kinh nghiệm học tập, ở đó HS phải là ngƣời thành thạo; c) Kết quả học tập theo năng lực thể hiện ở việc giải th ch sự vật thông qua phƣơng pháp học tập của HS; d) Những HS có năng lực khi làm một cái gì đó cần xác định rõ khả năng trong một tiêu chuẩn rộng, có thể đạt đƣợc kết quả thông qua việc thực hiện và có thể đo đếm đƣợc.
Những nghi n c u về năng lực ngôn ngữ Trên cơ sở khái niệm năng lực, suy rộng ra, năng lực ngôn ngữ (laguage competence) bao gồm một vốn các đơn vị và kết cấu ngôn ngữ học đã đƣợc t ch lũy cùng những kĩ năng thực tại hóa các đơn vị, kết cấu đó trong quá trình nghe, nói, đọc, viết và trong quá trình hoạt động ngôn từ. Một ngƣời đƣợc đánh giá là có năng lực ngôn ngữ khi họ hội tụ đƣợc đầy đủ các yếu tố sau: Có kiến thức v lĩnh vực ngôn ngữ (nắm vững các đơn vị ngôn ngữ, quy tắc kết hợp giữa các đơn vị ngôn ngữ ấy .); Có kĩ năng tiến hành các hoạt động ngôn ngữ, biết vận dụng ngôn ngữ trong việc tiếp nhận, lĩnh hội văn bản (nghe – hiểu, đọc – hiểu) và tạo lập văn bản (nói, viết); Có sẵn đi u kiện tâm l để tổ chức và thực hiện các tri thức, kĩ năng trong một cơ cấu thống nhất và theo một định hƣớng cụ thể, rõ ràng ( ý ch , ni m tin, hứng thú, thái độ của ngƣời đó đối với nội dung mà mình đ cập đến). Bachman cho rằng Năng lực ngôn ngữ bao gồm 2 loại năng lực ch nh là: năng lực tổ chức (organizational competence), và năng lực dụng học (pragmatic competence). Năng lực dụng học đƣợc hiểu nhƣ là có liên quan đến việc tổ chức những t n hiệu ngôn ngữ (linguistic signals) đƣợc sử dụng trong giao tiếp.
Đi u này liên quan trực tiếp đến hành động ngôn ngữ. Năng lực dụng học liên quan đến các chức năng của ngôn ngữ nhƣ chức năng thể hiện tƣ tƣởng, nhằm trình bày kinh nghiệm của con ngƣời v thế giới. Cơ chế tâm sinh l liên quan đến việc sử dụng ngôn ngữ nhƣ là các kênh (nghe, nhìn); và các dạng (tiếp nhận, sản sinh) mà trong đó năng lực đƣợc thể hiện. Thành tố “năng lực ngôn ngữ” trong khung l thuyết của Bachman L.
đƣợc thể hiện chi tiết trong sơ đồ sau: 9 Năng lực ngôn ngữ Năng lực tổ chức Năng lực dụng học Năng lực Năng lực Năng lực Năng lực ngữ pháp văn học hành ngôn ngôn ngữ xã hội Ẩn dụ, v von Tƣởng tƣợng Phƣơng ngữ Phong cách Đi u chỉnh Khám phá Tƣ tƣởng Hình thái Hội thoại Từ vựng Âm vực Ngữ âm Cú pháp Liên kết Sơ đồ 1. Thành tố “năng lực ngôn ngữ” trong khung l thuyết của Bachman [100; tr.87] Năng lực sử dụng ngôn ngữ: bao gồm khả năng sắp xếp, tổ chức từ ngữ; khả năng sử dụng từ ngữ đúng ngữ cảnh, đảm bảo chuẩn mực văn hóa, xã hội. Chú trọng phát triển năng lực sử dụng ngôn ngữ cần đƣợc đặt bên cạnh nhiệm vụ chuẩn bị năng lực ngôn ngữ nhƣ một thứ năng lực công cụ, giúp HS hiểu để làm (know-how), đi u mà A. Leonchiep đã từng nhấn mạnh: “Khi xét hoạt động ngôn ngữ nhƣ một thể thống nhất giữa GT với khái quát, không phải chỉ nêu cao khẩu hiệu “dạy lời”, càng không nêu cao khẩu hiệu “dạy ngôn ngữ”, mà phải đi tới nguyên tắc tổng hợp” (dẫn theo Hoàng Lộc [53; tr.
Năng lực sử dụng ngôn ngữ thể hiện trên hai bình diện tiếp nhận và tạo lập, với nhi u dạng thức GT ngôn ngữ khác nhau: nói (hội thoại, độc thoại), viết. Nhƣ vậy, những vấn đ có tầm vĩ mô nhƣ năng lực chiến lược, năng lực ngôn ngữ - văn hóa.