CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TỰ HỌC CHO HS TRONG DẠY HỌC VHS Ở THPT 1. Khái niệm tự học Tự học là một khái niệm rất rộng và trừu tượng. Ở Việt Nam có một số nhà nghiên cứu về giáo dục học đã đi sâu phân tích khái niệm này. Trong “Phương pháp dạy học truyền thống và đổi mới”, tác giả Thái Duy Tuyên viết: “Tự học là hoạt động độc lập chiếm lĩnh kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo, là tự mình động não, suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ (quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp…) cùng các phẩm chất động cơ, tình cảm để chiếm lĩnh tri thức một lĩnh vực hiểu biết nào đó hay những kinh nghiệm lịch sử, xã hội của nhân loại, biến nó thành sở hữu của chính bản thân người học” [30].
Tác giả Trần Bá Hoành cho rằng:“Tự học là người học tích cực chủ động, tự mình tìm ra tri thức kinh nghiệm bằng hành động của mình, tự thể hiện mình. Tự học là tự đặt mình vào tình huống học, vào vị trí nghiên cứu, xử lí các tình huống, giải quyết các vấn đề, thử nghiệm các giải pháp…Tự học thuộc quá trình cá nhân hóa việc học”. [29] Còn theo tác giả Nguyễn Cảnh Toàn: “Tự học là tự mình động não, suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ (quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp,.) và có khi cả cơ bắp (khi phải sử dụng công cụ) cùng các phẩm chất của mình, rồi cả động cơ, tình cảm, cả nhân sinh quan, thế giới quan (như trung thực, khách quan, có chí tiến thủ, không ngại khó, ngại khổ, kiên trì nhẫn nại, lòng say mê khoa học, ý chí muốn thi đỗ, biến khó khăn thành thuận lợi) để chiếm 8 z lĩnh một lĩnh vực hiểu biết nào đó của nhân loại, biến lĩnh vực đó thành sở hữu của mình. [22] Trên thế giới, khái niệm tự học cũng được tập trung nghiên cứu từ cuối thế kỉ XX.
Tác giả Candy (1987) đã xác định có ít nhất 30 khái niệm khác nhau được sử dụng đồng nghĩa với khái niệm tự học. Ví dụ, ông liệt kê ra tự học, học tập độc lập, người học tự ki m soát, hướng dẫn bản thân, học tập phi truyền thống, học tập mở, tham gia học tập, tự học, tự giáo dục, học tập tự tổ chức, tự học theo kế hoạch, tự chịu trách nhiệm về việc học, tự học và tự dạy… Trong quá trình nghiên cứu về tự học, một số tác giả đi đến thống nhất: có hai phương diện liên quan đến tự học đó là tính cách của người học và phương pháp học tập. Đặc đi m tính cách hay "tính tự định hướng của người học" thuộc về bản chất của người học và là những đặc trưng cá nhân cho phép họ th hiện "mong muốn chịu trách nhiệm với việc học". Đây là đặc đi m bên trong.
Phương pháp học tập là một đặc đi m bên ngoài nói đến "một quá trình mà trong đó người học có vai trò chính trong việc lập kế hoạch, thực hiện và đánh giá các trải nghiệm" (Brockett 11 & Hiemstra). Với Brockett & Hiemstra, hai phương diện này có mối quan hệ biện chứng và cùng nhau dẫn đến "tự học". Từ các quan niệm trên, chúng tôi cho rằng: Tự học là một quá trình học tập độc lập, chủ động, tích cực của người học trong việc chiếm lĩnh tri thức khoa học, cũng như những kiến thức trong cuộc sống hằng ngày. Nó có th được cá nhân người học tiến hành ở trên lớp hay ngoài lớp học.
Các hình thức tự học Xét về phạm vi diễn ra quá trình tự học, có th chia hình thức tự học làm hai loại: - Tự học trong các cơ sở giáo dục: Là hình thức tự học của người học diễn ra trong các cơ sở giáo dục có sự hướng dẫn, tổ chức của thầy theo kế hoạch giáo dục đã định s n. 9 z - Tự học trong cuộc sống: Là hình thức tự học được tiến hành ở bên ngoài các cơ sở giáo dục, diễn ra bất cứ lúc nào, với bất cứ ai có nhu cầu học tập. Xét về mức độ và cách thức tự học có hai hình thức tự học sau: - Tự học hoàn toàn: Là hình thức tự nghiên cứu của các nhà khoa học, được tiến hành dựa trên nền tảng vốn tri thức sâu rộng cùng niềm khát khao, say mê khám phá tri thức mới. Ở hình thức tự học này, người học tự lực tìm hi u, cọ xát với thực tiễn đ tổ chức có hiệu quả hoạt động của mình.
- Tự học có hướng dẫn: Là hình thức tự học phổ biến của HS được tiến hành linh hoạt theo từng cấp học, từng loại hình trường học, từng đối tượng; trong đó, HS tự nghiên cứu, tự lĩnh hội và vận dụng kiến thức, kĩ năng thông qua các hoạt động tự học do GV tổ chức, hướng dẫn, điều khi n. Xét về mối quan hệ của người tự học trong tự học, có: - Tự học không tương tác: Là hình thức học tập mà người học làm việc độc lập, chủ động có hoặc không có sự hướng dẫn của người thầy. - Tự học trong tương tác: Là hình thức tự học mà người học kết hợp với những người khác (có th với bạn, với thầy) trong học tập đ nghiên cứu, lĩnh hội và vận dụng kiến thức, kĩ năng; có hoặc không có sự hướng dẫn của người thầy. Như vậy với HS, hoạt động tự học chủ yếu liên quan đến các cơ sở giáo dục.
Hoạt động này thường kết hợp giữa học cá nhân với học hợp tác và là tự học có hướng dẫn của giáo viên. Chu trình tự học Tự học là một chu trình gồm ba giai đoạn: Giai đoạn 1- Tự nghiên cứu: Người học tự tìm tòi, quan sát, mô tả, giải thích, phát hiện vấn đề, định hướng, giải quyết vấn đề, tự tìm ra kiến thức mới (chỉ mới đối với người học) và tạo ra sản phẩm ban đầu (sản phẩm thô) có tính chất cá nhân. 10 z Giai đoạn 2 - Tự thể hiện: Người học tự th hiện mình bằng văn bản, bằng lời nói, tự trình bày, bảo vệ kiến thức hay sản phẩm cá nhân ban đầu của mình, tự th hiện qua sự đối thoại, giao tiếp với các bạn và thầy, cô giáo, tạo ra sản phẩm có tính chất xã hội của cộng đồng lớp học. Giai đoạn 3 - Tự kiểm tra, tự điều chỉnh: Sau khi tự th hiện mình qua sự hợp tác trao đổi với các bạn và thầy, cô giáo; sau khi thầy, cô giáo kết luận, người học tự ki m tra, tự đánh giá sản phẩm ban đầu của mình, tự sửa sai, tự điều chỉnh thành sản phẩm khoa học.
Tự nghiên cứu (1) Tự th hiện (2) Tự ki m tra điều chỉnh (3) Sơ đồ: Chu trình tự học (theo Quá trình dạy – tự học, tr160) Dưới tác động của thầy, hoạt động tự học của trò được tiến hành theo quy trình 3 thời nhằm đạt mục tiêu giáo dục như sau: Thời 1: Nghiên cứu cá nhân Theo hướng dẫn của thầy, HS tự đặt mình vào vị trí của người tự nghiên cứu, tự tiến hành khám phá tìm ra các kiến thức mới hoặc các giải pháp bằng cách tự lực suy nghĩ, xử lí các tình huống, giải quyết các vấn đề thầy đặt ra cho mình theo trình tự các thao tác sau: + Nhận biết, phát hiện vấn đề + Định hướng giải quyết vấn đề + Thu thập thông tin 11 z +Xử lí thông tin + Xây dựng các giải pháp giải quyết + Thử nghiệm các giải pháp, kết quả + Đưa ra kết luận + Ghi lại kết quả cùng cách nghiên cứu Như vậy, sau thời 1 HS đã tự mình tìm ra cách xử lí tình huống, vấn đề thầy đặt ra. Bằng hành động của chính mình, HS đã tạo ra “sản phẩm giáo dục ban đầu”. Thời 2: Hợp tác với bạn, học bạn “Sản phẩm giáo dục ban đầu” có giá trị và ý nghĩa lớn với HS vì là kết quả đạt được do nỗ lực của bản thân song dễ mang tính phiến diện, chủ quan. Đ trở nên khách quan, khoa học hơn, sản phẩm đó phải thông qua sự đánh giá, phân tích, sàng lọc, bổ sung của cộng đồng các chủ th - lớp học.
Nghĩa là HS phải tương tác với bạn thông qua hình thức trao đổi cá nhân, thảo luận nhóm – lớp, các hoạt động tập th …Dù ở hình thức nào, người học cũng phải tích cực, chủ động tự mình th hiện theo các trình tự thao tác sau (không thụ động nghe bạn nói, nhìn bạn làm): Tự trình bày, giới thiệu, bảo vệ sản phẩm ban đầu của mình. + Tỏ rõ thái độ của mình trước chủ kiến của bạn + Tự ghi lại ý kiến của các bạn theo nhận thức của mình. + Khai thác những gì đã hợp tác với bạn, bổ sung, điều chỉnh sản phẩm ban đầu của mình thành một sản phẩm tiến bộ hơn. Vậy ở thời 2 thông qua hợp tác với bạn, sản phẩm ban đầu của người học đã tiến bộ hơn; song trong hoạt động và thảo luận tập th xảy ra tình huống: cả lớp gặp phải những vấn đề nan giải, khó phân biệt đúng sai, khó đi đến kết luận khoa học.
Lúc này, HS phải học thầy và tự ki m tra, điều chỉnh sản phẩm “nghiên cứu” của mình. Thời 3: Hợp tác với thầy, học thầy, tự kiểm tra, tự điều chỉnh 12 z Thực ra, HS đã học thầy từ thời 1 qua nhiệm vụ thầy đặt ra và thời 2 qua sự tổ chức, đạo diễn cho tập th lớp thảo luận. Ở thời 3, thầy là người trọng tài kết luận về những gì cá nhân và tập th lớp đã tìm ra thành bài học khoa học. Trong lúc học thầy, HS cũng không thụ động nghe thầy kết luận mà tích cực học thầy bằng hành động của chính mình theo trình tự các thao tác sau đây: +Tự lực xử lí tình huống, giải quyết vấn đề theo sự hướng dẫn của thầy.
+ Chủ động hỏi thầy về những gì mình còn thắc mắc. + Tự ghi lại chính xác ý kiến kết luận của thầy. + Học cách phân tích, tổng hợp các ý kiến khác nhau của thầy, cách ứng xử của thầy trước những tình huống gây cấn nổi lên trong quá trình hoạt động tập th. + Dựa vào kết luận của thầy, tự ki m tra, tự đánh giá, tự điều chỉnh sản phẩm ban đầu của mình thành sản phẩm khoa học.
Xem xét quy trình 3 thời chúng ta thấy: Thời nào cũng có vai trò và hoạt động của thầy và trò.