phần Mở đầu; Kết luận, Khuyến nghị; Danh mục tài liệu tham khảo, Phụ lục, nội dung chính của luận văn gồm: - hương 1: Cơ sở lý luận về quản lý phát triển năng lực tự chủ và tự học cho học sinh ở các trường TH&THCS. - hương 2: Thực trạng quản lý phát triển năng lực tự chủ và tự học cho học sinh ở các trường TH&THCS thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai. - hương 3: Biện pháp quản lý phát triển năng lực tự chủ và tự học cho học sinh ở các trường TH&THCS thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai. 5 Chƣơng 1 CƠ SỞ UẬN VỀ QUẢN PH T TRIỂN N NG ỰC TỰ CHỦ VÀ TỰ HỌC CHO HỌC SINH Ở C C TRƢỜNG TIỂU HỌC VÀ TRUNG HỌC CƠ SỞ 1.
Tổng quan các nghiên cứu 1. Các nghiên cứu ở nước ngoài Ở mỗi giai đoạn lịch sử phát triển của xã hội loài người, tri thức đóng vai trò vô cùng quan trọng. Sự phát triển kinh tế xã hội của một quốc gia đều dựa trên nền tảng tri thức và muốn có tri thức thì phải phát triển giáo dục. Ý thức sâu sắc về vai trò, tầm quan trọng của tri thức, Đảng và Nhà nước ta luôn coi giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu.
Hiện nay, chúng ta đang nỗ lực xây dựng một xã hội học tập với nhiều hình thức học tập đa dạng như: Học tập trực tiếp tại trường, học tập từ xa và tự học. Trong đó việc tự học là quan trọng nhất và có ý nghĩa quyết định đến chất lượng giáo dục. Vấn đề tự học trong các nghiên cứu được đề cập đến ở những khía cạnh khác nhau. Thời cổ đại, Khổng Tử (551 - 479 TCN), nhà giáo dục kiệt xuất của Trung Hoa đã nói “Học phải kết hợp với suy nghĩ, học mà không suy nghĩ thì dễ mắc lầm, chỉ nghĩ mà không học thì chỉ thêm ngu tối” (Luận ngữ - vi chính) [9]; Khổng Tử đã cho thấy tầm quan trọng của việc tự học và phương pháp tự học.
Ở thế kỷ XVIII - XIX, Jean Jacques Rousseau (1712- 1778), Johann Heinrich Pestalozzi (1746- 1827), Adolf Distervers (1790- 1866), Konstantin Dmitrievich Usinxki (1824- 1870) đã đi sâu nghiên cứu về sự PT trí tuệ, tính tích cực, tính độc lập, sáng tạo của người học trong dạy học. Các tác giả trên đã cho rằng đây chính là cơ sở duy nhất để sự học có hiệu quả [41].Usinxki (1824 – 1873) đã cho rằng chỉ có công tác tự lực của học sinh mới tạo điều kiện cho việc thông hiểu sâu sắc kiến thức. (Dẫn theo [9]) 6 Vào thế kỷ XX, các nhà nghiên cứu tiếp tục kế thừa và PT những thành tựu trước đó, đã tạo ra một giai đoạn PT rực rỡ về lý luận dạy học.F Kharlamop … đã nghiên cứu về vấn đề TH, về cách độc lập nghiên cứu khoa học, cách suy nghĩ tìm tòi, cách sáng tạo, … (Dẫn theo [11]).Skinner, …đã đề cao HĐ tích cực của học sinh, khuyến khích học sinh tự sắp xếp thời gian học tập theo khả năng của mình, tự mình học lấy cho mình, tự mình thấy trách nhiệm của mình trước công việc. Hiện nay, các nhà giáo dục học đã nghiên cứu và khẳng định vai trò to lớn của tự học.
Trong tác phẩm “Tự học như thế nào” của Rubakin (1862 - 1946) [11] do Nguyễn Đình Khôi dịch đã đưa ra được vấn đề về các phương pháp tự học, các phương pháp sử dụng sách. Các nghiên cứu ở trong nước Chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm đến vấn đề giáo dục, vấn đề học tập và rèn luyện. Bác cho rằng học tập giúp con người tiến bộ, nâng cao phẩm chất, mở rộng hiểu biết, làm thay đổi hiệu quả lao động. Đặc biệt, Bác rất coi trọng tác dụng của tự học.
Đồng thời, Bác cũng là một tấm gương sáng về tinh thần tự học. Khi nói chuyện với các đảng viên hoạt động lâu năm ( Vào ngày 9 tháng 12 năm 1961), Hồ Chủ tịch đã tâm sự: “tôi năm nay 71 tuổi, ngày nào cũng phải học. Không học thì không theo kịp, công việc nó sẽ gạt mình lại phía sau”. Và với Bác, nguyên lý và phương thức học được tóm gọn trong mấy câu sau: “Học ở trường, học trong sách vở, học lẫn nhau và học dân” [11].
Tư tưởng của Người về tự học đã được vận dụng, quán triệt trong các Nghị quyết của Đảng. Nghị quyết Hội nghị lần thứ II - BCH TW Đảng khoá VIII đã khẳng định: “Đổi mới phương pháp dạy học… nâng cao khả năng tự học, tự nghiên cứu của người học” [9]. Tại Hội nghị toàn quốc lần thứ nhất về công tác huấn luyện và học tập khai mạc ngày 6 tháng 5 năm 1950, Bác đã khuyên học viên: “Không phải có thầy thì 7 học, thầy không đến thì đùa. Phải biết tự động học tập”.
Ở tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” (1947), khi nói về công tác huấn luyện cán bộ, Bác cũng nhắc nhở về cách học tập: "Lấy tự học làm cốt. Do thảo luận và chỉ đạo góp vào” [3]. Như vậy, theo Bác việc tự học giữ vai trò rất quan trọng, có tác dụng quyết định cho kết quả học tập. Việc tự học phải xuất phát từ động lực của chính bản thân người học, nhưng vẫn cần sự hỗ trợ, tác động từ môi trường học tập, cần sự chỉ đạo hướng dẫn của nhà trường, của người thầy.
Như vậy, lịch sử đã cho thấy vấn đề tự học, tự nghiên cứu của học sinh, sinh viên đã được nhiều nhà giáo dục, nhiều nhà sư phạm quan tâm nghiên cứu ở những góc độ khác nhau. Các tác giả đã chỉ rõ vai trò, tầm quan trọng của hoạt động tự học. Tác giả Thái Duy Tuyên trong cuốn “Phương pháp dạy học truyền thống và đổi mới” (dẫn theo [3]) đã bàn đến một cách sâu sắc vấn đề PT NLTH cho người học từ những vấn đề lý luận liên quan đến TH và tổ chức TH cho đến những cách vận dụng cụ thể trong dạy học trên lớp, viết giáo trình, tài liệu tham khảo, HD người học đọc sách … Tác giả Đào Tam với tài liệu “Tiếp cận các phương pháp dạy học không truyền thống trong dạy học toán ở trường đại học và trường phổ thông” (dẫn theo [3]) đã chỉ rõ vai trò của TH, các biểu hiện của NLTH cũng như các biện pháp rèn luyện NLTH cho SV ngành Toán. Tác giả Lê Trung Hiến (2018) với đề tài: Quản l hoạt động tự học của học sinh ở các trường phổ th ng dân tộc bán trú trung học cơ sở huyện Nậm P tỉnh Điện Biên [9], đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về quản lý hoạt động tự học của HS, phân tích, đánh giá thực trạng và đề xuất biện pháp quản lý hoạt động tự học của học sinh ở các trường phổ thông dân tộc bán trú trung học cơ sở huyện Nậm Pồ tỉnh Điện Biên.
Tác giả Chu Thanh Hùng (2018), thực hiện đề tài: Quản l hoạt động tự học của học sinh bán trú trường Phổ th ng Dân tộc Bán trú T S ao Thượng, huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn [11], đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về 8 quản lý hoạt động tự học của HS, phân tích, đánh giá thực trạng và đề xuất biện pháp quản lý hoạt động tự học của học sinh bán trú trường Phổ thông Dân tộc Bán trú THCS Cao Thượng, huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn. Nghiên cứu của Vũ Văn Chiến (2017) với đề tài: Quản l hoạt động tự học của học sinh trường Trung học Phổ th ng Tiên Lãng, huyện Tiên Lãng, thành phố ải Dương [3] đã đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về quản lý hoạt động tự học của HS, phân tích, đánh giá thực trạng và đề xuất biện pháp quản lý hoạt động tự học của học sinh trường Trung học Phổ thông Tiên Lãng, huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Dương. Nghiên cứu của Phạm Hoài Minh (2014) với đề tài Quản l hoạt động tự học của học sinh trường phổ th ng dân tộc nội trú trung học phổ th ng Miền Tây tỉnh Yên Bái [15], đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về quản lý hoạt động tự học của HS, phân tích, đánh giá thực trạng và đề xuất biện pháp quản lý hoạt động tự học của học sinh trường phổ thông dân tộc nội trú trung học phổ thông Miền Tây tỉnh Yên Bái. Như vậy, qua các công trình nghiên cứu trong nước và nước ngoài cho thấy, việc phát triển năng lực tự chủ và tự học của HS là rất cần thiết trong bối cảnh thực hiện chương trình giáo dục mới, tuy nhiên, công trình đánh giá phát triển năng lực tự chủ và tự học của HS ở các trường TH&THCS chưa có công trình cụ thể nào.
Bên cạnh đó, đối với địa bàn tỉnh Lào Cai chưa có một công trình nghiên cứu đề cập đến vấn đề này, chính vì vậy tác giả nhận thấy thực hiện đề tài “Qu n phát triển năng ực tự chủ và tự học cho học sinh ở các trường Tiểu học và Trung học cơ sở thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai ” có ý nghĩa sâu sắc cả về lý luận và thực tiễn. Một số khái niệm cơ bản của đề tài 1. Qu n Theo Từ điển Giáo dục học, “quản lí là hoạt động hay tác động của chủ thể quản lí mang tính mục đích đ n khách thể quản lí trong một tổ chức nh m đạt được mục đích của tổ chức đã đề ra” [7].Koontz định nghĩa: “Quản lí là một hoạt động thi t y u, nó đảm bảo phối hợp những nổ lực cá nhân nh m đạt được các mục đích của nhóm (tổ chức) Mục tiêu của quản lí là h nh thành một m i trường mà trong đó con người có thể đạt được các mục đích của nhóm v i thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất” [5]. Henry Fayol cho rằng (1845 - 1925): “Quản lí là dự đoán, lập k hoạch, tổ chức điều khiển, phối hợp và kiểm tra” [4].
Theo các tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc: “ oạt động quản l là sự tác động có đ nh hư ng, có chủ đích của chủ thể quản l (người quản l ) đ n khách thể quản l (người b quản l ) - trong một tổ chức - nh m làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức” [2]. Còn tác giả Nguyễn Ngọc Quang đưa ra khái niệm: “Quản l là tác động có mục đích, có k hoạch của chủ thể quản l đ n những người lao động (khách thể quản l ) nh m thực hiện những mục tiêu dự ki n” [18].