phần mở đầu và kết luận, khuyến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung chính của luận văn đƣợc trình bày gồm 3 chƣơng. Cơ sở lý luận và thực tiễn. Thiết kế và sử dụng hệ thống CH, BT dạy học chƣơng Chuyển hóa vật chất và năng lƣợng – Sinh học 11, THPT. Thực nghiệm sƣ phạm.
4 c CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Lƣợc sử nghiên cứu 1. Những nghiên cứu về năng lực Vào những năm 70 của thế kỉ XX, tại Liên xô (cũ) các vấn đề rèn luyện NL cho HS trong nhà trƣờng đã đƣợc đặc biệt quan tâm, điển hình có các tác giả I. Tiếp đó, nhiều nhà nghiên cứu, nhà giáo dục đã có những quan điểm làm sáng tỏ khái niệm về NL nhƣ P.Rudich, Gerard và Roegiers, De Ketele, Xavier Roegiers (1996), John Erpenbeck.
Các khái niệm về NL của các tác giả này nêu ra đều rất gần nhau và đều nêu đƣợc 3 thành phần của NL là kiến thức (nội dung), kĩ năng và tình huống [26]. Theo tác giả Weitnert (2001), NL là những khả năng và kĩ xảo học đƣợc hoặc sẵn có của cá thể nhằm giải quyết các tình huống xác định [26]. Nhƣ vậy, dù phát biểu nhƣ thế nào thì khi đề cập đến NL là phải nói đến khả năng thực hiện, là phải biết làm, chứ không chỉ biết và hiểu. Những nghiên cứu về dạy học phát triển năng lực Đi cùng với sự hoàn thiện khái niệm về NL là khái niệm giáo dục dựa vào NL cũng đƣợc quan tâm mạnh mẽ từ những năm 1960-1970.
Trong giáo dục, chƣơng trình giáo dục định hƣớng phát triển NL đã đƣợc bàn đến nhiều từ những năm 90 của thế kỉ XX và đến nay đã trở thành xu hƣớng giáo dục quốc tế. Ở thế kỉ này, nhiều quốc gia trên thế giới đã và đang thiết kế chƣơng trình giáo dục, nội dung giáo dục, phƣơng pháp dạy học theo hƣớng phát triển NL và xây dựng hệ thống các NL chung và NL chuyên biệt cho từng môn học, điển hình nhƣ ở Hoa Kỳ, Đức, Anh, Ôxtrâylia… 1. Những nghiên cứu về năng lực Nắm bắt xu hƣớng đổi mới giáo dục trên toàn cầu nên từ những năm cuối thế kỉ XX và những năm đầu thế kỉ XXI, giáo dục Việt Nam đã và đang tiếp tục triển 5 c khai đổi mới chƣơng trình. Có rất nhiều nhà giáo dục đã nghiên cứu về dạy học phát triển NL cho HS.
Tác giả Đào Trọng Khanh đã khái quát lại NL là phẩm chất tâm lí, sinh lí của con ngƣời đảm bảo thực hiện đƣợc một hoạt động nào đó [17]. Theo cách hiểu của Trần Trọng Thủy và Nguyễn Quang Uẩn thì cho rằng NL là tổng hợp những thuộc tính độc đáo của cá nhân phù hợp với những yêu cầu đặc trƣng của một hoạt động nhất định, nhằm đảm bảo việc hoàn thành có kết quả tốt trong lĩnh vực hoạt động ấy [Dẫn theo 23, tr. Theo Bernd Meier và Nguyễn Văn Cƣờng (2012), NL là khả năng thực hiện có trách nhiệm và hiệu quả các hành động, giải quyết các nhiệm vụ, vấn đề trong những tình huống khác nhau thuộc các lĩnh vực nghề nghiệp, xã hội hay cá nhân trên cơ sở hiểu biết, kĩ năng, kĩ xảo và kinh nghiệm cũng nhƣ sự sẵn sàng hành động [4]. Nhƣ vậy, cho dù khó định nghĩa NL một cách chính xác nhất nhƣng các nhà nghiên cứu Việt Nam và thế giới đã có cách hiểu tƣơng tự nhau về khái niệm này.
Tựu chung lại, NL đƣợc coi là sự kết hợp của các khả năng, phẩm chất, thái độ của một cá nhân hoặc tổ chức để thực hiện một nhiệm vụ có hiệu quả và đƣợc bộc lộ thông qua các hoạt động (hành động, công việc. Những định hướng về dạy học phát triển năng lực ở Việt Nam gần đây Ở Việt Nam, vấn đề dạy học theo định hƣớng phát triển NL sớm đƣợc đƣa vào nguyên lí giáo dục trong nhà trƣờng. Thực hiện các Nghị quyết của Đảng, Quốc hội và Quyết định của Thủ tƣớng Chính phủ, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã tổ chức xây dựng và ban hành Chƣơng trình giáo dục phổ thông 2018 để nâng cao chất lƣợng giáo dục thế hệ trẻ, đáp ứng những đòi hỏi của thực tế và bắt kịp xu thế chung của nhân loại. Để thực hiện đổi mới giáo dục phổ thông đáp ứng chủ trƣơng chính sách của Đảng, Quốc hội và Thủ tƣớng, ngày 26 tháng 12 năm 2018, Bộ trƣởng Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ra thông tƣ số 32/2018/TT-BGDĐT kèm theo đó là Chƣơng trình giáo dục phổ thông tổng thể và chƣơng trình các môn học rất khoa học, chi tiết.
6 c Chƣơng trình giáo dục phổ thông tổng thể nêu rõ NL của ngƣời học có thể chia thành hai loại chính là những NL chung và NL đặc thù [2]. NL chung là NL trong một phạm vi rộng, tạo tiền đề và là cơ sở cần thiết trong nhiều lĩnh vực hoạt động khác nhau. Nhƣ vậy, NL chung là năng lực cơ bản, thiết yếu để con ngƣời có thể sống và làm việc bình thƣờng trong xã hội. NL này là NL chủ đạo đƣợc hình thành và phát triển xuyên suốt chƣơng trình do nhiều môn học, liên quan đến nhiều môn học.
Những NL chung này là rất quan trọng với tất cả mọi ngƣời bởi nó giúp cho các cá nhân đáp ứng đƣợc những đòi hỏi của một bối cảnh xã hội rộng lớn và phức tạp. Trong Chƣơng trình giáo dục phổ thông có đề cập đến 3 NL chung cần hình thành cho HS là: NL tự chủ và tự học, NL giao tiếp và hợp tác, NL giải quyết vấn đề và sáng tạo. NL đặc thù là NL đƣợc hình thành, phát triển chủ yếu thông qua một số môn học và hoạt động giáo dục nhất định bao gồm NL ngôn ngữ, NL tính toán, NL khoa học, NL công nghệ, NL tin học, NL thẩm mĩ, NL thể chất. Những NL này góp phần giúp mọi ngƣời giải quyết các công việc chuyên môn trong lĩnh vực công tác hẹp của mình đạt kết quả tốt.
Ví dụ, NL ngôn ngữ đƣợc phát triển ở môn Ngữ văn và môn Ngoại ngữ là chủ đạo. Những nghiên cứu về năng lực sinh học Trên thế giới cũng có nhiều công trình nghiên cứu về NL sinh học. Ví dụ, theo nghiên cứu đề xuất của trƣờng Đại học Victoria (Úc) thì hệ thống các NL sinh học bao gồm 4 nhóm NL chính: (1) Tri thức về sinh học, (2) NL nghiên cứu, (3) NL thực địa, (4) NL thực hiện trong phòng thí nghiệm. Theo chuẩn NL của CHLB Đức, các NL ngƣời học cần đạt khi học Sinh học bao gồm: (1) Kiến thức môn học; (2) Nghiên cứu khoa học; (3) Truyền thông; (4) Đánh giá các quy chuẩn [1].
Một số tác giả trong nƣớc đã có các công trình nghiên cứu, các bài báo công bố trên các tạp chí uy tín về NL chung, NL đặc thù của môn Sinh học. Tác giả Lê Đình Trung và Phan Thị Thanh Hội [25] đã trình bày về dạy học Sinh học góp phần hình thành và phát triển các NL chung cho ngƣời học; một số giải pháp hình thành NL cho ngƣời học trong dạy học Sinh học nhƣ: Xây dựng các bài tập tình huống để sử dụng vào các khâu của quá trình dạy học; Xây dựng các dự án học tập; Xây dựng 7 c các bài toán Sinh học ở một số nội dung Sinh học; Tăng cƣờng các thí nghiệm thực hành, thí nghiệm nghiên cứu để giúp HS thƣờng xuyên trải nghiệm qua thực tiễn trong dạy học Sinh học. Bài viết cũng phân tích NL chuyên biệt cần hình thành và phát triển cho ngƣời học trong dạy học Sinh học, tập trung chủ yếu vào 2 NL chủ yếu là: NL tri thức khoa học sinh học; NL thực nghiệm và NL nghiên cứu khoa học sinh học. Về sự hình thành và phát triển NL chuyên biệt cho HS trong dạy học Sinh học ở trƣờng phổ thông nhƣ: Hình thành và phát triển NL nhận thức tri thức sinh học; Hình thành và phát triển NL thực nghiệm và NL nghiên cứu khoa học cho HS.
Từ đó, tác giả đề xuất xây dựng đƣờng phát triển NL chuyên biệt để đánh giá mục đích đạt đƣợc của HS nhƣ: Xây dựng đƣờng phát triển NL và nêu ví dụ về đƣờng phát triển NL nhận thức quy luật di truyền. Trong tài liệu Chƣơng trình giáo dục phổ thông môn Sinh học [3] cũng đã chỉ rõ môn Sinh học đóng góp vào việc phát triển NL khoa học. Việc hình thành, phát triển NL sinh học cho HS trong quá trình dạy học là một nhiệm vụ đối với GV phổ thông. Các NL thành phần của NL sinh học là: NL nhận thức sinh học; NL tìm hiểu thế giới sống; NL vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học.
Đồng thời, chƣơng trình cũng nêu rõ các biểu hiện từng NL thành phần của NL sinh học. Những nghiên cứu về việc xây dựng và sử dụng câu hỏi, bài tập trong dạy học Tác giả Nguyễn Đình Nhâm và Trần Ái Huế cùng đã khẳng định việc dạy mỗi khái niệm sinh học trong Chƣơng trình phổ thông có thể thực hiện bằng nhiều cách khác nhau, trong đó dạy học bằng cách sử dụng CH, BT là một cách dạy hiệu quả vì thông qua cách dạy này sẽ phát triển đƣợc NL tƣ duy cho ngƣời học, HS sẽ hiểu sâu sắc bản chất của khái niệm qua đó hình thành đƣợc NL nhận thức. Đồng thời nó là cơ sở để HS vận dụng tốt những tri thức vừa học đƣợc vào thực tiễn, là nền tảng để phát triển đƣợc NL vận dụng kiến thức đã học [21]. Bên cạnh đó có rất nhiều các công trình nghiên cứu khác về việc xây dựng và sử dụng CH, BT trong dạy học Sinh học nhƣ: Đinh Quang Báo, Phùng Thị Mai Hòa [6], Lê Thanh Oai, Phan Thị Thanh Hội [20].
Gần đây nhất là tác giả Mai Văn Hƣng và Nguyễn Văn Bình, 2020 [15] đã trình bày trong báo cáo khoa học Nghiên 8 c cứu và giảng dạy Sinh học ở Việt nam về việc thiết kế và sử dụng CH, BT trong dạy học chủ đề ―Tuần hoàn‖ - Sinh học 11, Trung học phổ thông chuyên. Nhìn chung, các giả đã nêu rõ khái niệm, vai trò cũng nhƣ nguyên tắc, quy trình thiết kế CH, BT và việc thiết kế và sử dụng CH, BT phù hợp trong quá trình dạy học đã nâng cao hiệu quả dạy và học. Trong các công trình nghiên cứu nêu trên thì chúng tôi nhận thấy các công trình nghiên cứu về phát triển NL sinh học còn rất ít hoặc phát triển một NL thành phần của NL sinh học nhƣ NL vận dụng kiến thức.