CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.1 Tổng quan về năng lực 1.1 Năng lực Phạm trù năng lực thường được hiểu theo nhiều cách khác nhau với những thuật ngữ tương ứng: Năng lực hiểu theo nghĩa chung nhất là khả năng (hoặc tiềm năng) mà cá nhân thể hiện khi tham gia một hoạt động nào đó ở một thời điểm nhất định. Chẳng hạn, khả năng giải toán, khả năng nói tiếng Anh,. thường được đánh giá bằng các trắc nghiệm trí tuệ. Theo từ điển bách khoa Việt Nam: “Năng lực đặc điểm của cá nhân thể hiện mức độ thông thạo – tức là có thể thực hiện một cách thành thục và chắc chắn – một hay một số dạng hoạt động nào đó.
Năng lực gắn liền với những phẩm chất về trí nhớ, tính nhạy cảm, trí tuệ, tính cách của cá nhân…” Theo quan điểm của những nhà tâm lý học; năng lực là tổng hợp các đặc điểm, thuộc tính tâm lý của cá nhân phù hợp với yêu cầu đặc trưng của một hoạt động, nhất định nhằm đảm bảo cho hoạt động đó đạt hiệu quả cao. Rudich, “Năng lực là tính chất tâm sinh lí của con người chi phối các quá trình tiếp thu các kiến thức, kĩ năng và kĩ xảo cũng như hiệu quả thực hiện các hoạt động nhất định.” Theo Gerard và X.Roegiers (1993) khẳng định : “Năng lực là sự tích hợp các kĩ năng tác động một cách tự nhiên lên các nội dung trong một loại tình huống cho trước để giải quyết những vấn đề do những tình huống này đặt ra”. Theo De Ketele (1995) : “Năng lực là một tập hợp trật tự các kĩ năng (các hoạt động) tác động lên các nội dung trong một loạt các tình huống cho trước để giải quyết các vấn đề do tình huống này đặt ra” [4; tr 91]. Ở Việt Nam khái niệm “năng lực” cũng được xác định một nội hàm khá rõ ràng qua cách tiếp cận tích hợp Trần Trọng Thủy và Nguyễn Quang Uẩn cho rằng “Năng lực là tổng hợp những thuộc tính độc đáo của cá nhân phù hợp với những 7 yêu cầu đặc trưng của một hoạt động nhất định, nhằm đảm bảo việc học tập có kết quả tốt trong lĩnh vực hoạt động ấy”.
Trong Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể (2017), năng lực: “là thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép con người huy động tổng hợp các kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí,… thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể”. Năng lực bao gồm năng lực chung và năng lực chuyên môn. Năng lực chung là “những năng lực cần thiết để cá nhân có thể tham gia hiệu quả trong nhiều loại hoạt động và các bối cảnh khác nhau của đời sống xã hội”. Năng lực chuyên môn là năng lực “cần thiết ở một hoạt động cụ thể, đối với một số người hoặc cần thiết ở những bối cảnh nhất định”.
Theo Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể được Bộ GD-ĐT (2017) hướng đến trang bị cho HS mười năng lực. Trong đó ba năng lực chung là: năng lực tự chủ và tự học, năng lực giao tiếp và hợp tác, năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo, và bảy năng lực chuyên môn là: năng lực ngôn ngữ, năng lực tính toán, năng lực tìm hiểu tự nhiên và xã hội, năng lực công nghệ, năng lực tin học, năng lực thẩm mỹ, năng lực thể chất.2 Mô hình cấu trúc năng lực Để hình thành và phát triển năng lực, cần xác định các thành phần và cấu trúc của chúng. Có nhiều loại năng lực khác nhau. Việc mô tả cấu trúc các thành phần năng lực cũng khác nhau.
Theo Bernd Meier và Nguyễn Văn Cường (2015), năng lực được mô tả như sự kết hợp của bốn năng lực thành phần: Năng lực chuyên môn: Là khả năng thực hiện các nhiệm vụ chuyên môn cũng như khả năng đánh giá kết quả chuyên môn một cách độc lập, có phương pháp và chính xác về mặt chuyên môn. Nó được tiếp nhận qua việc học nội dung – chuyên môn và chủ yếu gắn với khả năng nhận thức và tâm lí vận động. Năng lực về phương pháp: Là khả năng đối với những hành động có kế hoạch, định hướng mục đích trong việc giải quyết các nhiệm vụ và vấn đề. Năng lực 8 phương pháp bao gồm năng lực phương pháp chung và phương pháp chuyên môn.
Trung tâm của phương pháp nhận thức là những khả năng tiếp nhận, xử lí, đánh giá, truyền thụ và trình bày tri thức. Nó được tiếp nhận qua việc học phương pháp luận – giải quyết vấn đề. Năng lực xã hội: Là khả năng đạt được mục đích trong những tình huống giao tiếp ứng xử xã hội cũng như trong nhiệm vụ khác nhau trong sự phối hợp chặt chẽ với những thành viên khác. Nó được tiếp nhận qua việc tích lũy kinh nghiệm Năng lực cá thể: Là khả năng xác định, đánh giá được những cơ hội phát triển cũng như những giới hạn của cá nhân, phát triển năng khiếu, xây dựng và thực hiện kế hoạch phát triển cá nhân.
Nó được tiếp nhận qua việc học cảm xúc – đạo đức và liên quan tư duy và hành động tự chịu trách nhiệm. Mô hình bốn thành phần năng lực trên phù hợp với bốn trụ cột giáo dục theo quan điểm của UNESCO. Mô hình bốn thành phần năng lực Từ cấu trúc của năng lực cho thấy việc giáo dục định hướng phát triển năng lực không chỉ nhằm mục tiêu phát triển năng lực chuyên môn bao gồm tri thức, kỹ năng chuyên môn mà còn phát triển năng lực phương pháp, năng lực xã hội và năng 9 lực cá thể. Những năng lực này không thể tách rời nhau mà có mối quan hệ chặt chẽ.
Năng lực hành động được hình thành trên cơ sở có sự kết hợp các năng lực này.2 Năng lực nhận thức và năng lực nhận thức toán học 1.1 Năng lực nhận thức 1.1 Nhận thức Theo quan điểm triết học Mác - Lênin. Nhận thức là quá trình phản ánh biện chứng hiện thực khách quan vào trong bộ óc con người, có tính tích cực, năng động, sáng tạo, trên cơ sở thực tiễn.[35] Theo “Từ điển Bách khoa Việt Nam” Nhận thức là quá trình biện chứng của sự phản ánh thế giới khách quan trong ý thức con người, nhờ đó con người tư duy và không ngừng tiến đến gần khách thể. Như vậy, nhận thức là hoạt động có chủ đích của con người nhằm phản ánh một vấn đề gì đó vào bộ não người đặt cơ sở để hình thành tri thức về vấn đề đó. Nhận thức của con người không phải là một quá trình nhất thời mà được tiến hành một cách biện chứng, sáng tạo đi từ mức độ thấp đến mức độ cao, từ đơn giản đến phức tạp thể hiện qua hai giai đoạn: nhận thức cảm tính và nhận thức lí tính.
Khalamop khẳng định : “Học tập là quá trình nhiệt tình tích cực”, như vậy nhận thức của HS là hiệu quả của quá trình học tập và nghiên cứu. Từ nhận thức để tạo ra tri thức, tri thức là vốn hiểu biết khoa học của con người. Để nhận thức, các em phải hoạt động, đối với lứa tuổi HS thì hoạt động chủ yếu của các em là học tập. Bằng hoạt động này và thông qua hoạt động này, các em chiếm lĩnh kiến thức, hình thành và phát triển năng lực trí tuệ cũng như nhân cách đạo đức, thái độ.
Để phát triển khả năng nhận thức của HS chúng ta cần phát huy tính tích cực, tự giác, độc lập nhận thức của HS, tạo điều kiện để cho họ phải tự khám phá kiến thức mới cho bản thân mình. Khác với quá trình nhận thức trong nghiên cứu khoa học, quá trình nhận thức trong học tập, không nhằm phát huy những điều loài người chưa biết mà nhằm lĩnh hội những tri thức loài người đã tích lũy được. Tuy nhiên, trong học tập HS cũng phải “khám phá” ra những hiểu biết mới đối với bản thân thông qua hoạt động chủ động, nỗ lực của chính mình. 10 Từ nội hàm của các khái niệm trên, theo chúng tôi, nhận thức là một tổ hợp các thuộc tính tâm lí của cá nhân, giúp cá nhân có thể hiểu và nắm bắt tri thức khoa học một cách tự giác, tích cực, chủ động, sáng tạo.
Bloom (1956), thang nhận thức gồm có 6 cấp độ (Bloom’s Taxonomy): Nhớ, Hiểu, Vận dụng, Phân tích, Tổng hợp, Đánh giá. Sau khi được điều chỉnh gọi là Thang Bloom tu chính (Bloom’sử dụng Revised Taxonomy) gồm : Nhớ, Hiểu, Vận dụng, Phân tích, Đánh giá, Sáng tạo. Mô hình sáu mức độ thang nhận thức Bloom Từ các quan điểm đánh giá mức độ của quá trình nhận thức của Nguyễn Ngọc Quang và Benjamin Bloom, chúng tôi đánh giá phát triển nhận thức của HS theo các mức độ : nhớ, hiểu, vận dụng và vận dụng sáng tạo. - Nhớ/biết : Nhớ là khả năng ghi nhớ và nhận diện thông tin.
Nhớ ở đây được hiểu là nhớ lại những kiến thức đã học một cách máy móc và nhắc lại được. - Hiểu: là khả năng hiểu, diễn dịch, diễn giải, giải thích hoặc suy diễn (dự đoán được kết quả hoặc hậu quả). Hiểu không đơn thuần là nhắc lại cái gì đó. - Vận dụng: Vận dụng là khả năng sử dụng thông tin và chuyển đổi kiến thức từ dạng này sang dạng khác, vận dụng kiến thức trong tình huống mới, trong đời sống, trong thực tiễn.
- Vận dụng sáng tạo: Sử dụng các kiến thức đã có, vận dụng kiến thức vào tình huống mới với cách giải quyết mới, linh hoạt, độc đáo, hữu hiệu. Mức độ nhận thức của HS trong quá trình học tập gắn liền với khả năng vận dụng linh hoạt, thành thạo các thao tác của tư duy: so sánh, đối chiếu, phân tích, 11 tổng hợp, khái quát hóa, trừu tượng hóa để tiếp thu và sử dụng các kiến thức Toán học để hoàn thành tốt các nhiệm vụ học tập được giao.2 Năng lực nhận thức Năng lực nhận thức được biểu hiện ở nhiều mặt cụ thể là : - Mặt nhận thức: Nhanh biết, nhanh hiểu, biết suy xét logic và tìm ra các quy luật trong các hiện tượng một cách nhanh chóng. - Về khả năng tưởng tượng: Óc tưởng tượng phong phú, hình dung ra được các hình ảnh và nội dung theo đúng điều người khác mô tả. - Qua hành động: Sự nhanh trí, tháo vát, linh hoạt, sáng tạo.
- Qua phẩm chất: Óc tò mò, lòng say mê, hứng thú làm việc.2 Năng lực nhận thức toán học 1.1 Năng lực toán học Năng lực toán học là một loại hình năng lực chuyên môn, gắn liền với môn học.