MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp trọng yếu nhất của xã hội loài người, là công cụ của tư duy, nó là đặc trưng chỉ có ở loài người để phân biệt với các loài động vật khác. Trong quá trình phát triển của xã hội, ngôn ngữ có vai trò vô cùng quan trọng bởi nó giúp các nền văn hóa có thể giao thoa, trao đổi với nhau, đảm bảo sự đa dạng về văn hóa. Ngôn ngữ cũng giúp tăng cường hợp tác, xây dựng xã hội tri thức toàn diện, bảo tồn các di sản văn hóa và tạo điều kiện tiếp cận với một nền giáo dục có chất lượng cho mọi người.
Do đó, vấn đề phát triển năng lực ngôn ngữ là một vấn đề hết sức quan trọng, cần thiết của tất cả các quốc gia trên thế giới và đã được nền giáo dục nước nhà quan tâm nhiều hơn trong công cuộc đổi mới giáo dục hiện nay. Ở Việt Nam, các nhà giáo dục học đã rất chú trọng việc phát triển năng lực ngôn ngữ trong chương trình giáo dục trung học phổ thông (THPT) theo định hướng chuẩn đầu ra về phẩm chất, năng lực. Bộ Giáo dục và Đào tạo đã nhấn mạnh trong Đề án “Đổi mới chương trình và SGK giáo dục phổ thông sau năm 2015”: “Xây dựng chương trình giáo dục phổ thông theo hướng phát triển năng lực người học” [3]; Nghị quyết về “Đổi mới chương trình, SGK giáo dục phổ thông số 88/2014/QH13” (Thông qua ngày 28/11/2014 tại kì họp thứ 8, Quốc hội khóa XIII) cũng đã nhấn mạnh “Tiếp tục đổi mới phương pháp giáo dục theo hướng: phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo, bồi dưỡng phương pháp tự học, hứng thú học tập, kỹ năng hợp tác, làm việc nhóm và khả năng tư duy độc lập…” [12]. Vấn đề phát triển năng lực, trong đó năng lực giao tiếp chính là một trong những mục tiêu chính của chương trình dạy học theo định hướng kết quả đầu ra, nhằm hướng đến một môi trường giáo dục hiện đại, chuẩn hóa và hội nhập quốc tế, giúp học sinh phát triển năng lực giao tiếp ngôn ngữ ở tất cả các hình thức: đọc, viết, nói, nghe, giúp HS sử dụng tiếng Việt chính xác, mạch lạc, có hiệu quả và sáng tạo 1 c trong ngữ cảnh đa dạng, nghĩa là không chỉ hình thành ở người học năng lực ngôn ngữ mà quan trọng hơn là phát triển năng lực giao tiếp.
Trong các môn học ở trường phổ thông, Ngữ văn (bao gồm các hợp phần: Văn học - Làm văn - Tiếng Việt) là môn học quan trọng. Cùng với sự phát triển giáo dục, hợp phần tiếng Việt (TV) ngày càng khẳng định vai trò quan trọng không thể thiếu trong nhà trường, có nhiệm vụ cung cấp cho học sinh (HS) những tri thức ngôn ngữ học, hệ thống tiếng Việt, những quy tắc hoạt động và những sản phẩm của nó trong mọi hoạt động giao tiếp, giúp HS sử dụng đúng và linh hoạt vốn ngôn ngữ của mình, ứng dụng một cách phù hợp, có hiệu quả vào mọi tình huống giao tiếp trong học tập và cuộc sống. Chất lượng dạy - học tiếng Việt ở trường phổ thông có quan hệ trực tiếp tới việc phát triển năng lực ngôn ngữ, năng lực tư duy của các thế hệ nối tiếp và ảnh hưởng trực tiếp đến vận mệnh tiếng Việt, vận mệnh văn hóa Việt Nam bởi tiếng Việt còn có một chức năng vô cùng quan trọng nữa là trang bị cho HS công cụ để tiếp nhận và diễn đạt mọi kiến thức khoa học trong nhà trường. Vì thế, phát triển NLNN cho HS trong dạy học TV có vai trò vô cùng quan trọng và là việc làm vô cùng cần thiết,thiết thực.
Chương trình giáo dục phổ thông mới (2018) rất chú trọng việc phát triển năng lực ngôn ngữ và năng lực văn học, năng lực ngôn ngữ được xác định là một năng lực đặc thù cần được phát triển, nâng cao dần ở các cấp học. Cùng với quá trình đổi mới giáo dục, chương trình và sách giáo khoa mới đã có sự thay đổi theo hướng lấy thực hành làm trọng tâm, xây dựng nhiều dạng bài tập khác nhau nhằm nâng cao luyện tập thực hành, hướng vào chủ thể học sinh. Dạy tiếng Việt là dạy cho học sinh các phương tiện cần thiết để thực hiện quá trình giao tiếp; các cách thức thể hiện, tập hợp thành những kiểu phương tiện ngôn ngữ, đó chính là phong cách ngôn ngữ (PCNN). Do đó, mục đích hướng tới của việc dạy học cụm bài Phong cách ngôn ngữ là hướng dẫn 2 c người học cách giao tiếp như thế nào cho phù hợp với từng PCNN nhằm mang lại hiệu quả cao nhất cũng như thể hiện được những phẩm chất năng lực của HS.
Hiện nay, đã có rất nhiều nghiên cứu đưa ra các phương pháp dạy học Làm văn, Tiếng Việt ở trường phổ thông như: Phương pháp giao tiếp, phương pháp nêu và giải quyết vấn đề, phương pháp dạy học hợp tác (thảo luận nhóm). tất cả đều nhằm hướng đến mục đích phát triển năng lực ngôn ngữ để đạt hiệu quả giao tiếp cho HS. Tuy nhiên, phần tiếng Việt nói chung và cụm bài Phong cách ngôn ngữ nói riêng được biên soạn trong chương trình THPT hiện hành còn mang tính chất khô khan, nặng về lí thuyết nên khó tiếp cận đối với HS mà thời lượng dành cho việc dạy tiếng Việt, nhất là các bài phong cách học vẫn còn hạn chế. Hơn nữa, nhiều giáo viên (GV) vẫn chỉ chú trọng dạy văn hơn là dạy tiếng Việt, khi dạy tiếng Việt, GV vẫn còn chưa thực sự chú trọng đến việc dạy tiếng Việt theo định hướng giao tiếp nhằm phát triển năng lực ngôn ngữ cho HS.
Vì thế, chất lượng dạy và học chưa thực sự đạt hiệu quả so với mục tiêu đề ra. Thực tế, năng lực tiếng Việt của HS chưa đủ đáp ứng yêu cầu giao tiếp trong học tập cũng như trong cuộc sống, khả năng trình bày, diễn đạt của phần đông HS còn chưa tốt. Việc dạy học tiếng Việt chỉ thật sự có ý nghĩa khi HS có thể sử dụng tiếng Việt hiệu quả trong học tập và giao tiếp. Để góp phần đổi mới phương pháp dạy học, nâng cao hiệu quả dạy học tiếng Việt ở bậc THPT, chúng tôi chọn đề tài: “Phát triển năng lực ngôn ngữ cho học sinh lớp 10 thông qua dạy học cụm bài Phong cách ngôn ngữ” để nghiên cứu như một sự đòi hỏi cấp thiết từ bản thân trước thực tế đổi mới phương pháp dạy học Văn hiện nay nhằm nâng cao chất lượng dạy và học.
Trong đề tài này, chúng tôi đề xuất một số biện pháp cụ thể trong dạy học cụm bài Phong cách ngôn ngữ nói riêng và tiếng Việt 10 nói chung để nhằm phát triển năng lực sử dụng ngôn ngữ (nói-nghe-đọc-viết, đặc biệt là kĩ năng nói và viết) cho HS trong học tập cũng như trong đời sống, giúp các em có thể vận dụng linh hoạt, hiệu quả các kĩ năng ngôn ngữ này trong từng tình huống 3 c giao tiếp cụ thể, nói và viết phù hợp với từng loại phong cách ngôn ngữ. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2. Những nghiên cứu về năng lực Khái niệm năng lực (competency) có nguồn gốc tiếng Latinh được xuất hiện trong nhiều lĩnh vực nghiên cứu khác nhau như: Tâm lý học, Triết học, Xã hội học, Giáo dục học, Kinh tế học,. Hiện nay, trên thế giới có khá nhiều định nghĩa, cách hiểu khác nhau về năng lực (NL).
Phần lớn, các cách hiểu về NL của các nhà nghiên cứu nước ngoài đều hiểu NL là khả năng của con người như: Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế Thế giới (OECD) quan niệm NL chính là khả năng đáp ứng một cách hiệu quả những yêu cầu phức hợp trong một bối cảnh cụ thể; Christian Delory cho rằng NL là tập hợp các kiến thức, kĩ năng làm việc, kĩ năng sống giúp thích nghi, giải quyết vấn đề và thực hiện dự án trong một tình huống nào đó; Denysen Tremblay thì cho rằng NL là khả năng hành động, thành công và tiến bộ dựa vào việc huy động và sử dụng hiệu quả tổng hợp các nguồn lực để đối mặt với các tình huống trong cuộc sống; F. Weinert hiểu NL là tổng hợp các khả năng và kĩ năng sẵn có hoặc học được của con người để giải quyết những vấn đề nảy sinh. Còn theo Chương trình Giáo dục phổ thông Quescbec - Bộ Giáo dục Canada, 2004 định nghĩa năng lực là một khả năng hành động hiệu quả bằng sự cố gắng dựa trên nhiều nguồn lực, bao gồm cả những gì học được từ nhà trường cũng như những kinh nghiệm, những kĩ năng, thái độ và hứng thú của HS. Những khả năng này được sử dụng một cách phù hợp để đạt hiệu quả; Chương trình Giáo dục phổ thông của New Zealand cũng nêu ngắn gọn NL là một khả năng hành động hiệu quả hoặc sự phản ứng thích đáng trong các tình huống phức tạp nào đó.
Ở Việt Nam, khái niệm NL cũng được định nghĩa khá phong phú. - Từ điển Tiếng Việt của Hoàng Phê chủ biên định nghĩa NL là: “Khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hoạt động 4 c nào đó”; là “Phẩm chất tâm lí và sinh lí tạo cho con người có khả năng hình thành một loại hoạt động nào đó với chất lượng cao” [34, tr.816] - Theo Nguyễn Quang Uẩn: NL là tổ hợp các thuộc tính độc đáo của cá nhân phù hợp với yêu cầu của một hoạt động nhất định bảo đảm cho hoạt động đó có kết quả [48, tr. - Nguyễn Minh Thuyết trong “Một số vấn đề về đánh giá chương trình, SGK Ngữ văn hiện hành và đề xuất định hướng biên soạn chương trình, SGK mới định nghĩa: “Năng lực là sự tích hợp của nhiều thành tố như tri thức, kĩ năng, sự sẵn sàng hoạt động, khả năng hợp tác, khả năng huy động những nguồn thông tin mới của học sinh để giải quyết những vấn đề đặt ra trong cuộc sống” [42]. - Trong Chương trình GDPT tổng thể của Bộ Giáo dục và Đào tạo, khái niệm NL được hiểu là: “thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép con người huy động tổng hợp các kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí.thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể” [5, tr.