Phát Triển Năng Lực Mô Hình Hóa Toán Học BPT & HPT Bậc Nhất Hai Ẩn Lớp 10

Phát triển năng lực mô hình hóa toán học cho học sinh lớp 10 qua bất phương trình, hệ bất phương trình bậc nhất hai ẩn. Phương pháp dạy học hiệu quả.

Trường đại học

Trường Đại học Giáo dục

Chuyên ngành

Sư phạm Toán học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2023

108
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU

1.1. Lý do chọn đề tài

1.2. Lịch sử nghiên cứu

1.3. Mục đích nghiên cứu

1.4. Nhiệm vụ nghiên cứu

1.5. Khách thể và đối tượng nghiên cứu

1.5.1. Khách thể nghiên cứu

1.5.2. Đối tượng nghiên cứu

1.6. Phạm vi nghiên cứu

1.7. Giả thuyết nghiên cứu

1.8. Phương pháp nghiên cứu

1.8.1. Phương pháp nghiên cứu lý luận

1.8.2. Điều tra quan sát thực tiễn

1.8.3. Phương pháp thực nghiệm

1.9. Cấu trúc luận văn

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1. Mô hình hoá toán học

1.1.1. Một số khái niệm

1.1.1.1. Khái niệm mô hình và mô hình toán học
1.1.1.2. Khái niệm mô hình hoá
1.1.1.3. Khái niệm mô hình hoá toán học

1.1.2. Quy trình mô hình hoá toán học

1.2. Dạy học phát triển năng lực mô hình hoá toán học

1.2.1. Năng lực mô hình hoá toán học

1.2.2. Một số kỹ năng của năng lực mô hình hoá toán học

1.2.3. Vai trò của mô hình hoá toán học trong việc phát triển năng lực học sinh

1.3. Thực trạng áp dụng mô hình hoá toán học trong dạy học bất phương trình và hệ bất phương bậc nhất hai ẩn trong chương trình toán 10

1.3.1. Nghiên cứu chương trình BPT và hệ BPT bậc nhất hai ẩn trong toán lớp 10

1.3.2. Khảo sát thực trạng vấn đề dạy và học theo định hướng mô hình hoá toán học trong nội dung BPT và hệ BPT bậc nhất hai ẩn

1.4. Kết luận Chương 1

2. CHƯƠNG 2: MỘT SỐ BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC MÔ HÌNH HOÁ TOÁN HỌC TRONG DẠY HỌC BẤT PHƯƠNG TRÌNH VÀ HỆ BẤT PHƯƠNG BẬC NHẤT HAI ẨN TOÁN 10

2.1. Thiết kế một số hoạt động trong dạy học mô hình hoá trong chủ đề BPT và hệ BPT bậc nhất hai ẩn

2.1.1. Nguyên tắc thiết kế hoạt động mô hình hoá toán học

2.1.2. Thiết kế một số hoạt mô hình hoá trong BPT và hệ BPT bậc nhất hai ẩn

2.1.3. Một số bài toán

2.1.4. Rèn luyện kỹ năng chuyển đổi các vấn đề trong tình huống thực tiễn dưới dạng ngôn ngữ toán học

2.2. Kết luận chương 2

3. CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM

3.1. Mục đích thực nghiệm sư phạm

3.2. Nhiệm vụ thực nghiệm sư phạm

3.3. Nội dung thực nghiệm sư phạm

3.4. Tổ chức thực nghiệm sư phạm

3.5. Đối tượng của thực nghiệm sư phạm

3.6. Tiến trình của thực nghiệm sư phạm

3.7. Phân tích và đánh giá kết quả của thực nghiệm sư phạm

3.8. Kết luận chương 3

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Mô Hình Hóa Toán Học và BPT Lớp 10

Mô hình hóa toán học (MHH) là một quá trình quan trọng, đặc biệt khi áp dụng vào các chủ đề như BPT lớp 10. Nó không chỉ là việc giải các bài tập khô khan mà còn là cách để học sinh (HS) phát triển năng lực toán học một cách toàn diện. MHH giúp học sinh kết nối kiến thức toán học với thế giới thực, từ đó thấy được ứng dụng toán học trong cuộc sống hàng ngày. Theo Đại học Quốc Gia Hà Nội, MHH giúp HS giải quyết các bài toán thực tế. Quan trọng hơn, MHH khơi gợi sự hứng thú và đam mê học tập, giúp các em chủ động tìm tòi, khám phá tri thức. Kỹ năng giải quyết vấn đề cũng được trau dồi khi các em phải phân tích bài toán thực tế, đơn giản hóa và chuyển đổi thành mô hình toán học. Tư duy logicnăng lực toán học cũng được nâng cao thông qua việc xây dựng mô hìnhđánh giá mô hình. Luận văn Thạc sĩ của Bùi Thị Phương Chi đã nghiên cứu sâu về vấn đề này, nhấn mạnh tầm quan trọng của MHH trong việc giảng dạy BPT lớp 10 theo chương trình mới. Điều này đòi hỏi sự đổi mới trong phương pháp dạy và học, từ việc tiếp cận nội dung sang tiếp cận năng lực, giúp bồi dưỡng năng lực toán học cho HS.

1.1. Định Nghĩa và Vai Trò của Mô Hình Hóa Toán Học

Mô hình hóa toán học là quá trình sử dụng các công cụ và ngôn ngữ toán học để mô tả, phân tích và giải quyết các vấn đề trong thế giới thực. Nó giúp đơn giản hóa các tình huống phức tạp, làm nổi bật các yếu tố quan trọng và tạo ra các dự đoán có thể kiểm chứng. Theo Từ điển Việt Nam, MHH là tạo ra mô hình để nghiên cứu đối tượng. Trong bối cảnh giáo dục, MHH đóng vai trò cầu nối giữa lý thuyết và thực hành, giúp học sinh hiểu sâu sắc hơn về toán học ứng dụng. MHH giúp học sinh hiểu được toán học và cuộc sống có sự gắn kết mật thiết.

1.2. Liên Hệ Giữa Mô Hình Hóa Toán Học và Chương Trình Lớp 10

Chương trình Toán lớp 10 hiện nay, đặc biệt là phần BPT lớp 10, ngày càng chú trọng đến MHH. Các bài tập không chỉ dừng lại ở việc giải các phương trình, bất phương trình mà còn yêu cầu HS vận dụng kiến thức vào giải quyết các bài toán thực tế. Sách giáo khoa mới cũng tích hợp nhiều bài tập mô hình hóaví dụ mô hình hóa để hỗ trợ giáo viên (GV) và HS. Điều này đòi hỏi GV phải có sự chuẩn bị kỹ lưỡng, lựa chọn các tình huống phù hợp và hướng dẫn HS từng bước trong quy trình MHH.

II. Thách Thức Khi Dạy và Học Mô Hình Hóa BPT Lớp 10

Mặc dù MHH mang lại nhiều lợi ích, nhưng việc áp dụng vào dạy và học BPT lớp 10 cũng gặp không ít thách thức. Một trong những khó khăn lớn nhất là HS thường quen với việc giải các bài toán theo khuôn mẫu, ít có cơ hội tiếp xúc với các bài toán thực tế. Việc chuyển đổi từ ngôn ngữ đời thường sang ngôn ngữ toán học đòi hỏi khả năng phân tích bài toántư duy logic cao, điều mà nhiều HS còn thiếu. Bên cạnh đó, việc lựa chọn phương pháp mô hình hóa phù hợp cũng là một vấn đề nan giải. GV cần có kiến thức sâu rộng về nhiều lĩnh vực khác nhau để có thể xây dựng các mô hình toán học sát với thực tế. Theo khảo sát, HS còn gặp khó khăn với những bài toán mà dữ kiện cho không rõ ràng. Hơn nữa, thời gian trên lớp có hạn cũng là một rào cản, khiến GV khó có thể hướng dẫn HS một cách chi tiết, tỉ mỉ.

2.1. Rào Cản Từ Phía Học Sinh Khó Khăn Trong Tư Duy và Kỹ Năng

Nhiều HS gặp khó khăn trong việc phân tích bài toán, xác định các yếu tố quan trọng và thiết lập mối quan hệ giữa chúng. Khả năng tư duy logickỹ năng giải quyết vấn đề còn hạn chế khiến các em lúng túng khi phải đối mặt với các tình huống phức tạp. Thêm vào đó, sự thiếu tự tin và ngại thử thách cũng là một rào cản lớn.

2.2. Khó Khăn Đối Với Giáo Viên Chuẩn Bị và Phương Pháp Giảng Dạy

GV cần đầu tư nhiều thời gian và công sức để tìm kiếm, lựa chọn và xây dựng các bài tập mô hình hóa phù hợp với trình độ của HS. Việc thiết kế các hoạt động dạy học sao cho vừa hấp dẫn, vừa hiệu quả cũng là một thách thức không nhỏ. Ngoài ra, GV cũng cần trau dồi kiến thức về nhiều lĩnh vực khác nhau để có thể giải thích và hướng dẫn HS một cách chính xác.

III. Phương Pháp Phát Triển Năng Lực Mô Hình Hóa BPT Lớp 10

Để vượt qua những thách thức trên, cần có những phương pháp dạy và học phù hợp. Một trong những phương pháp hiệu quả là hướng dẫn mô hình hóa theo từng bước, bắt đầu từ việc phân tích bài toán, xác định các yếu tố quan trọng, thiết lập mô hình toán học, giải quyết bài toán và kiểm tra tính hợp lý của kết quả. GV có thể sử dụng các ví dụ minh họa cụ thể, gần gũi với đời sống để giúp HS dễ dàng hình dung và nắm bắt quy trình. Quan trọng hơn, cần tạo ra một môi trường học tập cởi mở, khuyến khích HS đặt câu hỏi, tranh luận và chia sẻ ý tưởng.

3.1. Hướng Dẫn Từng Bước Quy Trình Mô Hình Hóa Toán Học

GV nên chia nhỏ quy trình MHH thành các bước cụ thể, hướng dẫn HS từng bước một. Ví dụ, khi giải một bài toán về ứng dụng BPT, GV có thể bắt đầu bằng việc yêu cầu HS đọc kỹ đề bài, xác định các yếu tố đã biết và cần tìm, sau đó hướng dẫn các em thiết lập BPT và giải nó. Sau khi có kết quả, cần kiểm tra lại tính hợp lý của nó trong bối cảnh thực tế.

3.2. Sử Dụng Ví Dụ Minh Họa Gần Gũi và Thực Tế

Các ví dụ nên được lựa chọn sao cho gần gũi với đời sống hàng ngày của HS, ví dụ như các bài toán về mua bán, sản xuất, vận chuyển,... Điều này sẽ giúp các em dễ dàng hình dung và liên hệ kiến thức với thực tế. Ngoài ra, có thể sử dụng các tài liệu mô hình hóa toán học được biên soạn công phu và dễ hiểu.

3.3. Tạo Môi Trường Học Tập Cởi Mở và Khuyến Khích Tư Duy

GV nên tạo ra một môi trường học tập thoải mái, nơi HS không ngại đặt câu hỏi, tranh luận và chia sẻ ý tưởng. Khuyến khích các em tư duy sáng tạo, tìm kiếm nhiều cách giải khác nhau cho một bài toán. Đánh giá cao sự nỗ lực và tiến bộ của HS hơn là chỉ tập trung vào kết quả cuối cùng.

IV. Ứng Dụng Thực Tiễn Mô Hình Hóa BPT Lớp 10 Ví Dụ Cụ Thể

Để thấy rõ hiệu quả của MHH, có thể xem xét một số ví dụ cụ thể. Chẳng hạn, bài toán về tối ưu hóa chi phí sản xuất, bài toán về phân bổ nguồn lực, bài toán về lựa chọn phương án kinh doanh,... Trong mỗi trường hợp, HS sẽ được hướng dẫn cách chuyển đổi các yêu cầu của bài toán thành các BPT, giải các BPT và đưa ra kết luận phù hợp. Các ví dụ này không chỉ giúp HS nắm vững kiến thức mà còn rèn luyện kỹ năng giải quyết vấn đềtư duy phản biện.

4.1. Bài Toán Tối Ưu Hóa Chi Phí Sản Xuất

Một xưởng sản xuất có hai loại sản phẩm A và B. Để sản xuất một đơn vị sản phẩm A cần 2 giờ làm việc của máy I và 3 giờ làm việc của máy II. Để sản xuất một đơn vị sản phẩm B cần 4 giờ làm việc của máy I và 2 giờ làm việc của máy II. Máy I có tối đa 16 giờ làm việc, máy II có tối đa 10 giờ làm việc. Lợi nhuận từ một đơn vị sản phẩm A là 3 triệu đồng, lợi nhuận từ một đơn vị sản phẩm B là 4 triệu đồng. Hỏi xưởng cần sản xuất bao nhiêu đơn vị sản phẩm A và B để thu được lợi nhuận lớn nhất? HS sẽ được hướng dẫn cách thiết lập các BPT về thời gian làm việc của máy I và máy II, sau đó giải các BPT để tìm ra phương án sản xuất tối ưu.

4.2. Bài Toán Phân Bổ Nguồn Lực

Một nông trại có 100 ha đất trồng. Nông trại muốn trồng hai loại cây: lúa và ngô. Để trồng 1 ha lúa cần 2 triệu đồng, để trồng 1 ha ngô cần 3 triệu đồng. Nông trại có tổng cộng 240 triệu đồng để đầu tư. Lợi nhuận từ 1 ha lúa là 4 triệu đồng, lợi nhuận từ 1 ha ngô là 5 triệu đồng. Hỏi nông trại cần trồng bao nhiêu ha lúa và ngô để thu được lợi nhuận lớn nhất? HS sẽ được hướng dẫn cách thiết lập các BPT về diện tích đất và số tiền đầu tư, sau đó giải các BPT để tìm ra phương án trồng cây tối ưu.

V. Đánh Giá Năng Lực Mô Hình Hóa Toán Học BPT Lớp 10

Việc đánh giá năng lực mô hình hóa toán học cần được thực hiện một cách toàn diện, không chỉ dựa vào kết quả cuối cùng mà còn chú trọng đến quá trình thực hiện của HS. Có thể sử dụng nhiều hình thức đánh giá khác nhau, như bài kiểm tra, bài tập nhóm, dự án, thuyết trình,... Các tiêu chí đánh giá cần rõ ràng, cụ thể và phản ánh được các thành phần của năng lực mô hình hóa, như khả năng phân tích, thiết lập mô hình, giải quyết bài toán và kiểm tra tính hợp lý của kết quả. Đánh giá học sinh qua thực hành, MHH giúp học sinh tạo ra các giải toán bằng mô hình.

5.1. Hình Thức Đánh Giá Đa Dạng và Linh Hoạt

Sử dụng nhiều hình thức đánh giá khác nhau, như bài kiểm tra trắc nghiệm, tự luận, bài tập nhóm, dự án, thuyết trình,... Bài kiểm tra nên tập trung vào các bài tập mô hình hóa thực tế, yêu cầu HS vận dụng kiến thức để giải quyết các vấn đề cụ thể. Bài tập nhóm và dự án giúp HS phát triển kỹ năng hợp tácgiao tiếp.

5.2. Tiêu Chí Đánh Giá Rõ Ràng và Cụ Thể

Các tiêu chí đánh giá cần rõ ràng, cụ thể và phản ánh được các thành phần của năng lực mô hình hóa, như khả năng phân tích bài toán, xây dựng mô hình, giải quyết bài toánkiểm tra tính hợp lý của kết quả. Ví dụ, có thể đánh giá khả năng phân tích của HS thông qua việc xem xét cách các em xác định các yếu tố quan trọng và thiết lập mối quan hệ giữa chúng.

VI. Kết Luận và Triển Vọng Phát Triển MHH BPT Lớp 10

Mô hình hóa toán học là một hướng đi đầy tiềm năng trong việc dạy và học Toán ở trường phổ thông. Việc áp dụng MHH vào chủ đề BPT lớp 10 không chỉ giúp HS nắm vững kiến thức mà còn phát triển năng lực tư duy, giải quyết vấn đề và ứng dụng toán học vào thực tế. Cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa GV, HS, nhà trường và các nhà nghiên cứu để xây dựng một hệ thống dạy và học MHH hiệu quả, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo.

6.1. Tóm Tắt Các Điểm Chính và Kết Quả Nghiên Cứu

Luận văn đã trình bày tổng quan về MHH, các thách thức và phương pháp phát triển năng lực MHH cho HS lớp 10 trong chủ đề BPT. Các ví dụ cụ thể đã minh họa cho tính ứng dụng của MHH trong việc giải quyết các bài toán thực tế. Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng việc áp dụng MHH có thể giúp HS nâng cao khả năng tư duy và giải quyết vấn đề.

6.2. Đề Xuất Hướng Nghiên Cứu Tiếp Theo và Ứng Dụng Mở Rộng

Cần có thêm các nghiên cứu về việc áp dụng MHH vào các chủ đề khác của chương trình Toán phổ thông. Việc xây dựng các tài liệu mô hình hóa toán học phù hợp với trình độ của HS cũng là một hướng đi quan trọng. Ngoài ra, cần nghiên cứu về việc sử dụng công nghệ thông tin để hỗ trợ quá trình dạy và học MHH.

11/09/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Mô hình hoá toán học 1. Một số khái niệm 1. Khái niệm mô hình và mô hình toán học Có rất nhiều khái niệm khác nhau về MHH như: Theo từ điển Việt Nam [12, 638], mô hình mang ý nghĩa như sau: mô hình là một vật cùng hình dạng nhưng kích thước lại bị thu nhỏ lại nhiều, mô phỏng lại cấu tạo, hoạt động của một vật khác để trình bày, nghiên cứu.

Mô hình cũng là một hình thức diễn đạt một cách ngắn gọn theo một ngôn ngữ khác mang đặc trưng chủ yếu của một đối tượng, để nghiên cứu đối tượng ấy. Mô hình là sự đơn giản hóa hay thu nhỏ hiện thực một cách có chủ định. Cho phép nhà nghiên cứu bỏ qua các mặt thứ yếu khác nhằm tập trung vào phương diện chính, có ý nghĩa quan trọng đối với vấn đề nghiên cứu. Mô hình như là dạng trừu tượng hóa của một hệ thống thực.

Hay cũng có thể nói: mô hình là một hình ảnh hay một biểu diễn của một hệ thống thực, qua đó diễn tả hệ thống: ở một mức trừu tượng hóa nhất định; theo một quan điểm hay một góc nhìn; bởi một hình thức diễn tả hiểu được (văn bản, hình khối, phương trình, bảng, đồ thị,…). Mô hình là một vật hay hệ thống giữ một vai trò là đại diện hay là một vật thay thế cho đối tượng mà ta đang quan tâm nghiên cứu. Như vậy tóm lại, mô hình giống như một vật trung gian dùng để nghiên cứu đối tượng nhằm hướng tới mục đích nhất định nào đó. Vậy còn mô hình toán học được định nghĩa như thế nào? 8 Như Tiến sĩ Katie Fowler của Đại học Clarkson cho rằng: “Mô hình toán học là một công cụ sử dụng toán học để biểu diễn một tình huống trong thế giới thực nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc định lượng, phân tích dự đoán và có cái nhìn sâu sắc hơn về tình huống đó.” Tiến sĩ Joseph Malkevitch, Đại học York, tuyên bố: “Mô hình toán học là một nhánh của toán học liên quan đến việc sử dụng toán học để hiểu sâu hơn về các lĩnh vực và tình huống bên ngoài toán học”.

Mô hình toán học được sử dụng nhiều trong các ngành khoa học tự nhiên và chuyên ngành kĩ thuật như ngành vật lý, ngành sinh học, kỹ thuật điện tử và một số ngành khác. Đồng thời còn được dùng trong cả lĩnh vực khoa học xã hội (kinh tế, xã hội học và khoa học chính trị). Chẳng hạn như trong kinh tế có mô hình nghiên cứu và phân tích quá trình hình thành giá cả của một loại hàng hóa bất kỳ trên thị trường với giả định là điều kiện sản xuất, thu nhập, sở thích người tiêu dùng đã cho trước và không đổi; trong khoa học máy tính: các mô hình kiến trúc mạng, mô hình dữ liệu, mô hình toán trong đồ họa máy tính; trong điện tử: mô hình quang phổ, mô hình năng lượng, … 1. Khái niệm mô hình hoá Theo từ điển Việt Nam [12, 638], “MHH là tạo ra mô hình để mô hình ấy nghiên cứu một đối tượng nào đó.

MHH toán học là hệ thống các công thức, phương trình, kí hiệu toán học diễn đạt các đặc trưng chủ yếu của một đối tượng để nghiên cứu đối tượng ấy”. MHH là việc dùng các mô hình để làm sao nhận thức và diễn tả nên được hệ thống. Những mục đích MHH được sử dụng như sau: 9 Một là để hiểu: Muốn không bị mơ hồ với những ý tưởng thì người ta cần hình dung được nó. Ở đây “hiểu” tức là hình thành được một hình ảnh xác thực và đơn giản dù ở trong tưởng tượng hay đã được mô phỏng bên ngoài về đối tượng được tìm hiểu.

Ngược lại, cũng nhờ vào việc sử dụng các mô hình, ta có thể nhận thức được vấn đề dễ dàng và nhanh chóng hơn. Hai là để trao đổi: Khi nó giúp con người hiểu được, thì nó sẽ giúp ta có thể trao đổi. Mô hình giống như một loại ngôn ngữ để giao tiếp giữa những người cùng quan tâm tới một vấn đề hay một hệ thống chung. Ba là để hoàn chỉnh: Nhờ sự minh bạch của mô hình vậy nên ta có thể dễ dàng nhận thấy hệ thống đã phù hợp với nhu cầu hay chưa, có chặt chẽ, đầy đủ chưa và từ đó có thể hoàn thiện thêm.

Ngoài ra, mô hình còn giúp ta kiểm định, mô phỏng và thực hiện. Do đó, yêu cầu đối với một mô hình tốt đó là phải: dễ đọc, dễ hiểu, dễ trao đổi, xác thực, chặt chẽ, đầy đủ, dễ thực hiện. Khái niệm mô hình hoá toán học Trong giáo dục toán học, người ta có thể tìm thấy nhiều cách tiếp cận và quan điểm khác nhau về mô hình hoá toán học. Chẳng hạn : MHH trong dạy học Toán là quá trình học tập và tìm hiểu giúp học sinh tìm hiểu, khai phá các tình huống, vấn đề bên ngoài thực tế bằng công cụ, ngôn ngữ Toán học và biến nó thành ngôn ngữ toán học cùng với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin.

Để thực hiện được tốt quá trình này đòi hỏi học sinh cần phải trang bị đầy đủ các kĩ năng và thao tác tư duy Toán học như phân tích, tổng hợp, so sánh, khái quát hóa, trừu tượng hóa. Ở trường phổ thông, MHH thể hiện mối quan hệ giữa các hiện tượng trong tự nhiên và xã hội với nội dung kiến thức Toán học 10 trong SGK thông qua ngôn ngữ Toán học như ký hiệu, phương trình, công thức, đồ thị, sơ đồ. Như vậy, chúng ta có thể thấy những hoạt động MHH có thể rèn luyện cho học sinh những khái niệm và quá trình Toán học, hệ thống hóa được các khái niệm, ý tưởng Toán học và nắm được cách thức xây dựng, tìm mối quan hệ giữa các ý tưởng đó. Như vậy học sinh sẽ cảm nhận được việc học toán có ý nghĩa hơn từ đó hình thành nên động cơ và niềm say mê học Toán.

[10] Theo Lê Thị Hoài Châu (2014), “Mô hình toán học là sự giải thích bằng toán học cho một hệ thống ngoài toán học với những câu hỏi xác định mà người ta đặt ra trên hệ thống này. Quá trình MHH toán học là quá trình xây dựng một mô hình toán học dành cho một vấn đề ngoài toán học. Người thực hiện sẽ giải quyết vấn đề trong mô hình đó rồi thực hiện đánh giá lời giải trong ngữ cảnh thực tế, dựa vào kết quả đánh giá để quay lại cải tiến mô hình nếu như cách giải quyết không thể chấp nhận” [3]. Trong cuốn sách Gaimme, MHH toán học là một quá trình sử dụng toán học để biểu diễn, phân tích, đưa ra dự đoán hoặc cung cấp cái nhìn sâu sắc về các hiện tượng trong thế giới thực.

Mô hình toán học thể hiện mối quan hệ giữa mô hình hóa và thế giới xung quanh chúng ta. Cụ thể: sử dụng ngôn ngữ toán học để định lượng các hiện tượng trong thế giới thực và phân tích; sử dụng toán học để khám phá và phát triển sự hiểu biết của chúng ta về các vấn đề trong thế giới thực; một quá trình giải quyết vấn đề lặp đi lặp lại trong đó toán học được sử dụng để nghiên cứu và phát triển sự hiểu biết sâu sắc hơn [13, 8]. Như vậy, ta có thể hiểu đơn giản MHH toán học là việc giải quyết những bài toán thực tiễn bằng công cụ toán học hay nói cách khác là quá trình chuyển đổi từ vấn đề thực tế sang vấn đề toán học và ngược lại. Quy trình mô hình hoá toán học Quá trình MHH các tình huống thực tế trong dạy học Toán được thực hiện bằng cách sử dụng các công cụ và ngôn ngữ Toán học phổ biến như là dùng các công thức toán học, những thuật toán, phương trình, hệ phương trình, BPT, hệ BPT, bảng biểu, biểu tượng, đồ thị, kí hiệu, … MHH đã được nhiều nhà toán học, khoa học, nhà giáo dục nghiên cứu và ứng dụng.

Họ đã đưa ra khá nhiều quy trình MHH toán học trong đó có một vài quy trình tiêu biểu như sau: 1.1 Sơ đồ Pollak Sơ đồ trên cho thấy, từ một mô hình trong thế giới thực người thực hiện cần chuyển sang thế giới toán học hoặc tạo ra một mô hình toán học, sau đó giải bài tập toán, áp dụng kết quả đối với tình huống ban đầu. Chiều mũi tên biểu diễn một vòng lặp, thể hiện mối liên hệ giữa thế giới thực và thế giới toán học đồng thời cũng thể hiện quá trình này có thể lặp lại nhiều lần. Sơ đồ Pollak này là một trong những sơ đồ xuất hiện đầu tiên và những sơ đồ sau sẽ tiếp nối tiếp những ưu điểm của sơ đồ này và triển khai nó chi tiết hơn. Chu trình MHH 7 bước của Blum Giữa sự biến đổi giữa toán học và thực tế MHH tập trung nhấn mạnh vào chiều từ thực tiễn đến toán học.

Xuất phát từ tình huống thực tiễn, lựa chọn sử dụng linh hoạt kiến thức toán học để giải quyết và sau đó trở lại xem xét tính hữu ích của mô hình toán học vừa sử dụng. Quá trình này được cụ thể hoá bằng những bước như sau: Bước 1: Xác định được tình huống được cho, xây dựng một mô hình cho tình huống đó. Bước 2: Đơn giản hóa tình huống đó và gọi các biến số phù hợp vào để được mô hình thực của tình huống. Trong bước này người thực hiện cần hệ thống và xác định được các quy luật phải tuân theo để đưa ra được điều kiện, giả thiết sao cho phù hợp.

Điều này giúp tránh yếu tố phi thực tế dẫn tới việc giải sai, bài toán vô lý. 13 Bước 3: Chuyển đổi từ mô hình thực tế sang mô hình toán học. Người thực hiện cần thông dịch từ ngôn ngữ thực tế sang ngôn ngữ toán học. Bằng cách sử dụng các kí hiệu của đại số như: dấu các phép toán, dấu bằng, dấu bất đẳng thức, dấu ngoặc,.

cùng với hệ thống chữ cái được gọi dùng làm biến hay tham số,để thiết lập mối liên hệ giữa cái đã biết và cái chưa biết sau đó tính toán trên những mối liên hệ này đến khi nhận được kết quả cần tìm. Tư tưởng tổng quát của nó là biểu thị đại lượng chưa biết bằng một chữ - gọi là ẩn (có điều kiện thích hợp cho ẩn) và biểu thị sự tương quan giữa các đại lượng của bài toán bằng một hay nhiều phương trình, bất phương trình. Bước 4: Làm việc trong môi trường toán học để thu được kết quả của biến số.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ