MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Trong thời gian gần đây công tác hướng nghiệp cho học sinh (HS) Trung học phổ thông (THPT) đang ngày càng trở nên quan trọng và được sự quan tâm của các bậc phụ huynh cũng như của toàn xã hội. Thực tế cho thấy có khá nhiều sinh viên chọn nghề không phù hợp dẫn đến hiện tượng làm trái nghề, chuyển nghề sau khi tốt nghiệp. Tỷ lệ sinh viên năm thứ nhất - năm thứ hai và thậm chí là sinh viên sau khi tốt nghiệp không sử dụng kiến thức chuyên ngành được học mà tiếp tục học một ngành hoàn toàn khác khá đáng kê.
Thanh niên sẽ không thể toàn tâm toàn ý với công việc, cũng không thể đạt được đỉnh cao trong học tập nếu chọn nghề sai lệch. Hậu quả trước tiên là cho bản thân người học: sự lãng phí thời gian, công sức và cả tiền bạc. Đối với xã hội, việc này làm cho vòng quay nguồn nhân lực lộn xôn, người lẽ ra giỏi ở nghề này thì lại đầu quân cho nghề khác, bất ồn cho phân công lao động và rõ ràng gây lãng phí cho xã hội rất lớn về mặt tài chính và nhân lực. Theo đánh giá của Trung tâm lao động hướng nghiệp (Bộ GD&ĐT), công tác hướng nghiệp cho học sinh trong nhà trường chưa thật hiệu quả, ít có tác động đến việc lựa chọn nghề tương lai cho các em.
Hậu quả là hàng năm, hầu như tất cả học sinh tốt nghiệp THPT đồ dồn vào thi Đại học (ĐH) nhưng chỉ có gần 20% số này trúng tuyển, và 80% số còn lại mất định hướng trong nghề nghiệp. Điều này dẫn đến tình trạng nguồn cung cấp lao động trở nên “thừa thầy, thiếu thợ” [64]. Nguyên nhân của tình trạng trên là công tác hướng nghiệp chưa tốt, chưa có những hành động thiết thực. Đặc biệt, nhiều học sinh trung học cơ sở (THCS) nói chung và ở ở nhiều tỉnh thành phía Nam nói riêng bước vảo năm cuối cấp, chỉ thích học tiếp lên THPT, vào Đại học mà rất hiếm học sinh nào chọn hướng học nghề theo những định hướng phân luồng.
Theo báo cáo tại Hội thảo “Các phương pháp phân luồng học sinh sau THCS và trung học phô thông” ngày 11/9/2009 của Bộ GD&ĐT [64]. Nếu cộng cả số HS tốt nghiệp THPT chưa tiếp tục học với số học sinh bỏ học và trượt tốt nghiệp hàng năm thì con số này lên đến gần 400. Nếu những HS này được “phân luỗng”, học nghề sớm thì hiệu quả kinh tế cao hơn. Tỷ lệ HS tốt nghiệp THCS học nghề và TCCN rất thấp (học nghề khoảng 2,5% - 3%; TCCN từ 1,4% - 1,8%).
Trên 70% HS THPT 1 không được giáo dục hướng nghiệp một cách đầy đủ. Trên 85% học sinh muốn thi vào ĐH, có tới 56% sẵn sàng chờ năm sau thi lại ĐH nếu trượt. Điều này cũng cho thấy rằng nếu thực hiện công tác hướng nghiệp cho HS THPT hiệu quả thì bài toán lãng phí sẽ được giải quyết, bài toán làm thế nào để cung cấp đủ nhân lực cho các ngành nghề cũng được giải quyết phần nào. Giáo dục hướng nghiệp trong nhà trường phổ thông là hình thức hoạt động của thầy và trò, có mục đích giáo dục HS trong việc chọn nghè, giúp các em tự quyết định nghề nghiệp tương lai trên cơ sở phân tích có khoa học về năng lực, hứng thú của bản thân và nhu cầu nhân lực của các ngành sản xuất trong xã hội.
Không chỉ giáo viên chủ nhiệm mà GVBM cũng phối hợp nhằm nâng cao năng lực nhận thức nghề nghiệp cho HS THPT phù hợp với trình độ phát triển tâm lý. GVBM đóng vai trò tích cực trong việc tạo điều kiện thuận lợi để HS được trực tiếp tham gia vào hoạt động xã hội bước đầu hình thành năng lực thích ứng nghề cho HS, góp phần chuẩn bị những cơ sở can thiết về tri thức, kỹ năng, phâm chất cho các em bước vào thị trường lao động xã hội. Nhưng hiện nay, vai trò của GVBM chưa được phát huy vì nhiều hạn chế như GV chưa thực sự nhận thức được vai trò của mình, thiếu tri thức và kỹ năng trong công tác hướng nghiệp, chưa phối hợp được với lực lượng giáo dục khác trong công tác hướng nghiệp. dẫn đến những hạn chế về tính chưa đồng bộ trong công tác giáo dục hướng nghiệp.
Xuất phát từ những lý do trên, đề tài “Phát triển năng lực hướng nghiệp cho đội ngũ GVBM ở trường THPT” được đề xuất nghiên cứu. Mục đích nghiên cứu Phát triển năng lực hướng nghiệp cho đội ngũ GVBM ở trường THPT từ đó góp phần nâng cao hiệu quả công tác hướng nghiệp của GVBM ở trường THPT. Nhiệm vụ nghiên cứu 3. Hệ thống hóa cơ sở lý luận liên quan đến đề tài: năng lực, năng lực hướng nghiệp, năng lực hướng nghiệp của GVBM, phát triển năng lực hướng nghiệp của GVBM ở trường THPT.
Khảo sát thực trạng năng lực hướng nghiệp và công tác phát triển năng lực hướng nghiệp cho đội ngũ GVBM ở trường THPT. Trên cơ sở đó, tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến thực trạng này. Đề xuất các biện pháp phát triển năng lực hướng nghiệp cho đội ngũ GVBM ở trường THPT trên cơ sở lý luận và thực tiễn về năng lực hướng nghiệp. Đối tượng và khách thể nghiên cứu 4.
Đối tượng nghiên cứu Công tác phát triển năng lực hướng nghiệp cho đội ngũ GVBM ở trường THPT. Khách thể nghiên cứu Khách thể nghiên cứu là quá trình hình thành và phát triển năng lực hướng nghiệp cho đội ngũ GVBM. Khách thể điều tra là GVBM tại một số trường THPT tại Tp.HCM, Bình Dương và Cà Mau. Khách thể điều tra bổ trợ là các cán bộ quản lý làm việc tại các trường THPT tại Tp.HCM, Bình Dương và Cà Mau; giảng viên trường Đại học Sư phạm sinh viên năm cuối trường Đại học Sư phạm TP.
Giả thuyết nghiên cứu Năng lực hướng nghiệp của GVBM tại một số trường THPT hơn nửa đạt mức độ khá. Tuy nhiên, tỷ lệ GVBM có năng lực hướng nghiệp đạt mức từ trung bình trở xuống cũng vẫn chiếm một tỷ lệ đáng kể. Công tác phát triển năng lực hướng nghiệp cho đội ngũ GVBM ở trường THPT còn hạn chế do những nguyên nhân từ môi trường học tập và đào tạo cũng như môi trường làm việc tại các trường THPT. Có thê phát triển năng lực hướng nghiệp của GVBM thông qua học tập chuyên đề, tập huấn kỹ năng tư vấn hướng nghiệp và kỹ năng giáo dục tích hợp các nội dung hướng nghiệp trong các môn văn hóa.
Giới hạn và phạm vỉ nghiên cứu 6. Nội dung nghiên cứu - Chỉ nghiên cứu năng lực hướng nghiệp trên cấu trúc: nhận thức - kỹ năng - thái độ với hoạt động hướng nghiệp. Năng lực hướng nghiệp được nhìn nhận trong mặt kỹ năng chỉ nghiên cứu kỹ năng tư vấn hướng nghiệp và kỹ năng tích hợp các nội dung hướng nghiệp trong các môn văn hóa. - Đề tài tập trung nghiên cứu việc phát triển năng lực hướng nghiệp cho đội ngũ GVBM ở trường THPT tại Tp.HCM, Bình Dương và Cà Mau.
Khách thể điều tra Nghiên cứu được tiễn hành tại một số trường THPT ở khu vực phía Nam bao gồm 3 tỉnh thành: TPHCM, Bình Dương (khu vực miền Đông Nam bộ) và Cà Mau (khu vực miền Tây).HCM, đề tài chỉ nghiên cứu 4 trường THPT bao gồm THPT Quang Trung, THPT Nguyễn Hiền, THPT Trần Quang Khải THPT Nguyễn Thị Minh Khai. - Ở Bình Dương, đề tài chỉ nghiên cứu 4 trường THPT bao gồm THPT An Mỹ, THPT Bến Cát, THPT Nguyễn An Ninh, THPT Phan Bội Châu. - Ở Cà Mau, đề tài chỉ nghiên cứu 4 trường THPT bao gồm THPT Thới Bình, THPT U Minh, THPT Đầm Dơi, THPT Cà Mau. Phương pháp nghiên cứu 7.
Phương pháp luận nghiên cứu Đề tài sử dụng phối hợp các phương pháp luận khác nhau, trong đó quan điểm hệ thống cấu trúc và quan điểm thực tiễn đóng vai trò chủ yếu. Quan điểm hệ thống cấu trúc Vận dụng quan điểm hệ thống cấu trúc để xây dựng cơ sở lý luận như năng lực, năng lực hướng nghiệp, năng lực hướng nghiệp của GVBM. Nghiên cứu đề tài (xây dựng bảng hỏi, bình luận thực trạng) được tiễn hành trên cấu trúc đã được xác lập. Quan điểm thực tiễn Thực tiễn là nguyên nhân cũng như là điều kiện để năng lực hướng nghiệp của GVBM hình thành và phát triển.
Việc nghiên cứu trong đề tài sẽ sử dụng các tình huống thực tiễn đề làm bộc lộ các năng lực hướng nghiệp ở khách thê. Phương pháp nghiên cứu Đề tài nghiên cứu sử dụng phối hợp các phương pháp sau 7. Phương pháp nghiên cứu lý luận 7. Mục đích Khái quát hóa, hệ thống hóa một số vẫn đề lý luận cơ bản, trên cơ sở đó xây dựng các bảng hỏi.
Cách thực hiện Đọc tài liệu, tham khảo một số công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài, tìm ra những cơ sở nghiên cứu năng lực hướng nghiệp ở GVBM. Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn 7. Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi a. Mục đích Đây là phương pháp chủ đạo của đề tài.
Bảng hỏi được xây dựng dựa trên hệ thống câu hỏi nhằm đánh giá thực trạng năng lực hướng nghiệp và công tác phát triển năng lực hướng nghiệp cho đội ngũ GVBM ở trường THPT. Các câu hỏi chỉ tiết và cụ thể được cấu trúc thành một bảng câu hỏi điều tra, thông qua việc trả lời các khách thê sẽ bộc lộ những nhận thức - kỹ năng - thái độ đối với hoạt động hướng nghiệp và thực trạng công tác phát triển năng lực hướng nghiệp cho đội ngũ GVBM ở trường THPT. Bảng hỏi được xây dựng cho từng nhóm khách thể khác nhau: + Nhóm khách thể là GVBM + Nhóm khách thẻ là cán bộ quản lý trường học + Nhóm khách thê là HS THPT + Nhóm khách thê là giảng viên Sư phạm. Cách thực hiện Dựa trên cơ sở lý luận đề tài và phương pháp luận đề thiết kế bảng hỏi phù hợp với mục đích.
Bảng hỏi được thử nghiệm trước khi điều tra chính thức trên khách thể. Phương pháp phỏng vấn a. Mục đích Tiến hành phỏng vấn đối với các HS, GVBM, cán bộ quản lý để có thê làm rõ thêm năng lực hướng nghiệp và công tác phát triển năng lực hướng nghiệp cho đội ngũ GVBM ở trường THPT. Cách thực hiện Sau khi thu số liệu và xử lý thống kê toán học, người nghiên cứu tiến hành phỏng vấn 20 học sinh THPT, 20 giáo viên, 20 cán bộ quản lý, 10 giảng viên trường Đại học Sư phạm dựa theo bảng phỏng vấn đã soạn sẵn.
Phỏng vấn được thu âm, ghi nhận bằng hình và có chữ ký của khách thé. Phương pháp tọa đàm - hội thảo a.