Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 1. LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ Đánh giá về đội ngũ giáo viên hiện nay Chỉ thị 40-CT/TW ngày 15/6/2004 của Ban Bí thư Trung ương “Về việc nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục” đã nêu “Mục tiêu là xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục được chuẩn hoá, đảm bảo chất lượng, đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, đặc biệt chú trọng nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất, lối sống, lương tâm, tay nghề của nhà giáo, thông qua việc quản lý phát triển đúng định hướng và có hiệu quả sự nghiệp giáo dục để nâng cao nguồn nhân lực, đáp ứng đòi hỏi ngày càng cao của sự nghiệp CNH-HĐH đất nước” [13]; Vấn đề nghiên cứu xây dựng và phát triển nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên nói chung và xây dựng phát triển chất lượng ĐNGVDN đã được đề cập trong nhiều đề tài nghiên cứu, luận văn với phạm vi rộng hoặc ở một số đề tài trong phạm vi của một ngành, một địa phương cụ thể có thể kể đến như: Đề tài “Nghiên cứu việc bồi dưỡng cán bộ giảng dạy đại học và GVDN” của TS. Phạm Thanh Nghị, nghiên cứu phục vụ cho các đối tượng là cán bộ giáo dục và GVDN ở diện rộng; đề tài TS “Các giải pháp quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn cho đội ngũ GV trường Trung học kinh tế và Kỹ nghệ thực hành tỉnh Phú Thọ” của Đặng Thị Minh Thuỷ; đề tài của Trần Hùng Lượng “Một số giải pháp bồi dưỡng năng lực sư phạm kỹ thuật cho GVDN Việt Nam hiện nay”, nghiên cứu cơ sở lí luận của các biện pháp bồi dưỡng năng lực SPKT, đề xuất một số giải pháp bồi dưỡng năng lực 7 SPKT cho GVDN toàn quốc, đề tài “Kỹ năng sư phạm của GVDN - thực trạng và giải pháp” của Đỗ Mạnh Cường và Đỗ Thị Lan. Mô hình xây dựng đội ngũ giáo viên do Bộ giáo dục và đào tạo tổ chức(1987), Mô hình đào tạo bồi dưỡng giáo viên dạy nghề do Tổng cục dạy nghề tổ chức(1999), Mô hình giáo viên dạy nghề Của PGS.
Trần Khánh Đức,. và một số công trình nghiên cứu, bài viết về công tác đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ đội ngũ giáo viên dạy nghề của TS. Nguyễn Xuân Mai, TS. Phạm Chính Thức, TS.
Hoàng Ngọc Trí,.đây là những công trình khoa học nghiên cứu hết sức công phu, có tính lý luận và thực tiễn cao, đã góp phần vào việc nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên. - Nói chung các đề tài nghiên cứu trên đã đề cập đến nhiều lĩnh vực của đào tạo nghề, trong đó có các biện pháp quản lý ĐNGVDN. Từ đó đã tác động đến phát triển ĐNGVDN trên tầm vĩ mô và từng đơn vị, cơ sở dạy nghề. Khi luật dạy nghề ban hành (có hiệu lực từ ngày 01/06/2007) quy định trong hệ thống dạy nghề có 3 trình độ đào tạo là cao đẳng nghề, trung cấp nghề, sơ cấp nghề theo đó là các loại hình cơ sở dạy nghề: Trường Cao đẳng nghề, Trường trung cấp nghề và Trung tâm dạy nghề.
Các Trung tâm GDTX - Dạy nghề được tách thành Trung tâm GDTX và Trung tâm dạy nghề không chỉ đơn thuần là sự chuyển đổi cơ học mà là sự chuyển đổi về chất làm thay đổi toàn bộ hoạt động, mục tiêu, nội dung chương trình và đặc biệt là yêu cầu cao về chất lượng ĐNGVDN. Mặc dù đã có nhiều đề tài nghiên cứu, nhiều bài viết nhưng chưa có đề tài nghiên cứu về giải pháp nâng cao chất lượng ĐNGVDN ở Trung tâm dạy nghề trên cơ sở tách từ Trung tâm GDTX và DN trực thuộc UBND cấp huyện một cách quy mô cả về chiều sâu và chiều rộng, nhằm phát triển mô hình Trung tâm dạy nghề. MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN 1. Giáo viên, giáo viên dạy nghề: 8 - Giáo viên: Nhà nước ta luôn đặc biệt quan tâm tới giáo dục và giáo viên.
Luật giáo dục đầu tiên của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ra đời năm 1998 có hiệu lực từ ngày 01/6/1999 đã có vị trí quan trọng trong đời sống xã hội và trong hệ thống pháp luật quốc gia. Có nhiều thuật ngữ và danh hiệu được dùng để chỉ người làm công tác giảng dạy ở các cấp bậc học khác nhau: Giáo viên, giáo viên mầm non, cán bộ giảng dạy, nhà giáo, giảng viên,. Khái niệm giáo viên được thể hiện ở khoản 1, điều 70, Luật Giáo dục : Nhà giáo là người làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục trong nhà trường hoặc ở cơ sở giáo dục khác. Nhà giáo phải có những tiêu chuẩn sau [25]: + Phẩm chất, tư tưởng, đạo đức tốt.
+ Đạt trình độ chuẩn được đào tạo và chuyên môn, nghiệp vụ. + Đủ sức khoẻ theo yêu cầu nghề nghiệp. + Lý lịch bản thân rõ ràng. - Giáo viên dạy nghề: Theo Điều 11 của Điều lệ trường dạy nghề “Giáo viên trường dạy nghề là người trực tiếp đảm nhận việc giảng dạy, giáo dục của nhà trường; giữ vai trò chủ đạo trong mọi hoạt động giảng dạy, giáo dục của nhà trường” [3].
GVDN là một chức danh trong hệ thống chức danh của trường nghề đã được điều lệ trường dạy nghề quy định. Ngoài những đặc điểm chung, giáo viên dạy nghề có những đặc trưng riêng so với giáo viên các ngành, cấp, bậc khác. Nhà giáo dục học người Nga X.Batusép đã viết: Giáo dục học và giáo dục học nghề nghiệp có những khác biệt. Dạy thực hành (dạy sản xuất) trong các trường dạy nghề là một đặc điểm, chính việc dạy thực hành là bộ phận quan trọng nhất của giáo dục kỹ thuật nghề nghiệp.
Do đặc thù này nên ngoài những phẩm chất năng lực chung của giáo viên, giáo viên dạy nghề có những đặc điểm riêng và những quy định riêng. 9 Tại khoản 1 điều 58 của Luật dạy nghề đã qui định “GVDN là người dạy lý thuyết, dạy thực hành hoặc vừa dạy lý thuyết vừa dạy thực hành trong các cơ sở dạy nghề”.[26] Tại khoản 2 Điều 70 của Luật giáo dục quy định Nhà giáo có những tiêu chuẩn: + Phẩm chất đạo đức, tư tưởng tốt; + Đạt trình độ chuẩn được đào tạo chuyên môn, nghiệp vụ; + Đủ sức khoẻ theo yêu cầu nghề nghiệp; + Lí lịch bản thân rõ ràng. Khoản 3 Điều 58 của Luật dạy nghề đã bổ sung thêm những quy định về trình độ chuẩn của giáo viên dạy nghề như sau: + Giáo viên dạy lý thuyết trình độ sơ cấp nghề phải có bằng tốt nghiệp trung cấp nghề trở lên; giáo viên dạy thực hành phải là người có bằng tốt nghiệp trung cấp trở lên hoặc là nghệ nhân, người có tay nghề cao; + Giáo viên dạy lý thuyết trình độ trung cấp nghề phải có bằng tốt nghiệp đại học sư phạm kỹ thuật hoặc đại học chuyên ngành; giáo viên dạy thực hành phải là người có băng tốt nghiệp cao đẳng nghề hoặc là nghệ nhân, người có tay nghề cao; + Giáo viên dạy lý thuyết trình độ cao đẳng nghề phải có bằng tốt nghiệp đại học sư phạm kỹ thuật hoặc đại học chuyên ngành trở lên; giáo viên dạy thực hành phải là người có bằng tốt nghiệp cao đẳng nghề hoặc là nghệ nhân, người có tay nghề cao; + Trường hợp giáo viên không có bằng tốt nghiệp cao đẳng sư phạm kỹ thuật hoặc đại học sư phạm kỹ thuật thì phải có chứng chỉ đào tạo sư phạm. Điều 73 của Luật giáo dục quy định nhà giáo có các quyền sau: + Được giảng dạy theo chuyên ngành đào tạo; + Được đào tạo nâng cao trình độ; bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ; 10 + Được hợp đồng thỉnh giảng và nghiên cứu khoa học tại các trường, cơ sở giáo dục khác và cơ sở nghiên cứu khoa học với điều kiện đảm bảo thực hiện đầy đủ nhiệm vụ nơi mình công tác; + Được bảo vệ nhân phẩm, danh dự; + Được nghỉ hè, nghỉ tết âm lịch, nghỉ học kỳ theo quy định của Bộ trưởng Bộ GD-ĐT và các ngày nghỉ khác theo quy định của Bộ luật lao động.
Khoản 2 điều 59 của Luật dạy nghề đã bổ sung thêm những quy định về quyền của giáo viên dạy nghề như sau: + Được đi thực tế sản xuất, tiếp cận với công nghệ mới; + Được sử dụng các tài liệu phương tiện, đồ dùng dạy học và cơ sở vật chất của cơ sở dạy nghề để thực hiện nhiệm vụ được giao; + Được tham gia đóng góp ý kiến về chủ trương, kế hoạch của dạy nghề, xây dựng chương trình, giáo trình, phương pháp giảng dạy và các vấn đề có liên quan đến quyền lợi của giáo viên. Môi trường lao động nghề nghiệp chủ yếu của GVDN là các trường dạy nghề. Tuy nhiên không phải tất cả giáo viên trong trường dạy nghề đều là GVDN. Trường dạy nghề có nhiều loại giáo viên như: + Giáo viên dạy các môn cơ bản; + Giáo viên dạy các môn chung; + Giáo viên dạy các môn kỹ thuật cơ sở nghề, lý thuyết chuyên môn và hướng dẫn thực hành nghề (Đây chính là lực lượng chính trong trường dạy nghề và được gọi là GVDN).
+ Giáo viên dạy lý thuyết nghề; + Giáo viên dạy thực hành nghề; + Giáo viên dạy cả lý thuyết và thực hành nghề. 11 Trong xã hội và trong hệ thống giáo dục, giáo viên dạy nghề có vai trò quan trọng với những thay đổi của quá trình sản xuất xã hội bởi lao động của họ có tác động trực tiếp đến chất lượng nguồn nhân lực. Đội ngũ, đội ngũ giáo viên dạy nghề - Đội ngũ giáo viên: Có nhiều khái niệm khác nhau về vấn đề này. Tuy nhiên ở một số nghĩa chung nhất ta hiểu: Đội ngũ là tập thể người, hợp thành một lực lượng để thực hiện một hay nhiều chức năng, có thể cùng nghề hoặc khác nghề, nhưng có chung một mục đích xác định.
Có nhiệm vụ trực tiếp giảng dạy và giáo dục học sinh, chịu sự ràng buộc của những quy tắc có tính chất hành chính của ngành, của Nhà nước. Tóm lại: Đội ngũ giáo viên là tập hợp các nhà giáo làm nghề dạy học, giáo dục, được tổ chức thành một lực lượng có tổ chức cùng nhau chung một nhiệm vụ và thực hiện các mục tiêu giáo dục đặt ra cho tập thể hoặc tổ chức đó. - Đội ngũ giáo viên dạy nghề: Từ hai khái niệm đội ngũ giáo viên và giáo viên dạy nghề ta có thể hình thành được khái niệm về ĐNGVDN như sau: Đội ngũ giáo viên dạy nghề là tập hợp các giáo viên thực hiện nhiệm vụ giảng dạy các môn kỹ thuật cơ sở nghề, lý thuyết chuyên môn và hướng dẫn thực hành nghề và giáo dục học sinh.