Chương 1. Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc phát triển năng lực hợp tác cho học sinh trong dạy học hóa học ở trương THPT Chương 2. Sử dụng phương pháp dạy học hợp tác kết hợp với các kĩ thuật dạy học tích cực trong dạy học phần dẫn xuất của hiđrocacbon- Hóa học 11 Comment [A1]: bổ sung số trang cho mỗi chương nhé Chương 3. Thực nghiệm sư phạm 5 z CHƢƠNG I CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆCPHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỢP TÁC CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC HÓA HỌC Ở TRƢỜNG THPT 1.
Lịch sử vấn đề nghiên cứu 1. Các nghiên cứu ở nước ngoài Dạy học hợp tác là một ý tưởng đã có từ rất lâu đời. Xuất phát điểm là người Do Thái cho rằng muốn học một điều gì cũng cần phải hợp tác với nhau, để lĩnh hội được nội dung kinh Talmud mỗi người học phải có 3 thứ: một bản kinh Talmud, một thầy dạy và một bạn học. Ngay từ đầu thế kỷ thứ nhất, Marco Fabio Quintilian cho rằng người học sẽ có rất nhiều thuận lợi nếu biết nói những điều mình hiểu cho người khác cùng hiểu.
Đến thế kỷ thứ XVII, Jan Amôt Komenxki (1592 - 1670) tin rằng HS sẽ học tốt từ việc dạy cho bạn bè và học từ bạn bè của mình. Các nhà giáo dục tiên tiến đều đã nói đến lợi ích của việc học hợp tác, HS học với nhau, giúp đỡ lẫn nhau, từ đó tạo ra một môi trường học tập tích cực Cuối thế kỷ XIII đầu thế kỷ XIV, Reverend Bebel và Joseph Lancaster người Anh đã tổ chức dạy học theo nhóm nhỏ, họ chia HS thành từng nhóm để hoạt động. Thông qua hoạt động nhóm, người học cùng nhau trao đổi, chia sẻ, và giúp nhau tìm hiểu, rồi cùng khám phá vấn đề và thu được kết quả học tập tốt. Ý tưởng học tập hợp tác được nhanh chóng lan truyền từ Anh sang Mỹ và đã nhận được sự hưởng ứng, phát triển rộng rãi bởi những nhà giáo dục tiên phong như John Dewey, Roger Parker, Morton Deutch.
Họ đề cao mặt xã hội của việc học tập và cũng đề cao vai trò của nhà giáo trong việc giáo dục HS một cách dân chủ. Dewey cho rằng muốn học cách cùng chung sống trong xã hội thì người học phải được trải nghiệm trong cuộc sống hợp tác ngay từ trong nhà trường. Cuộc sống trong lớp học là quá trình dân chủ hoá trong một thế giới vi mô và học tập phải có sự hợp tác giữa các thành viên trong lớp học [21, tr. 6 z Vào đầu những năm 1990, John Dewey nhà giáo dục đầu tiên của Mỹ khởi xướng dạy học hợp tác ông đã nhấn mạnh vai trò của giáo dục như là một phương tiện dạy cho con người cách sống hợp tác trong một chế độ xã hội dân chủ.
Trong khoảng thời gian từ năm 1930 đến năm 1940, nhà tâm lí học xã hội Kurt Lewin đã tạo nên một dấu ấn mới trong lịch sử phát triển của tư tưởng giáo dục hợp tác khi ông nhấn mạnh đến tầm quan trọng của cách thức cư xử trong nhóm khi ông nghiên cứu hành vi của các nhà lãnh đạo và thành viên trong các nhóm dân chủ. Sau đó, Mornton Duetsch, một HS của Lewin đã phát triển lí luận về hợp tác và cạnh tranh trên cơ sở “những lí luận nền tảng” của Lewin. Elliot Aronson với mô hình lớp học Jigsaw đầu tiên (1978) đã đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong việc hoàn thiện các hình thức dạy học hợp tác. Nhiều công trình nghiên cứu của ông cho thấy rằng thành tích của cá nhân và tập thể luôn cao hơn khi mọi người hợp tác với nhau thay vì ganh đua.
Bởi vì kết quả của cạnh tranh khiến cho một người thành công trên thất bại của người khác và đương nhiên điều đó làm giảm hiệu quả làm việc; mặt khác, môi trường cạnh tranh chú trọng vào việc thúc đẩy người ta làm việc xuất sắc hơn người khác, chứ không phải là cùng nhau làm việc tốt. Với 122 nghiên cứu năm 1981 và 193 nghiên cứu năm 1989 về giáo dục hợp tác, Johnson và các cộng sự của mình đã nhận thấy rằng giáo dục hợp tác có nhiều khả năng tạo nên thành công hơn các hình thái tác động khác, kể từ cấp tiểu học đến THPT. Đến năm 1996, lần đầu tiên PPDHHTđược đưa vào chương trình học chính thức hàng năm của một số trường đại học ở Mỹ. Gần đây, David W.
Johnson và Roger T. Johnson thuộc trường Đại học Minnesota và Robert Slavin thuộc viện Johns Hopkins cùng với nhiều nhà nghiên cứu khác đã phát triển giáo dục hợp tác thành một trong những PPDH hiện đại nhất hiện nay. Như vậy, từ các nghiên cứu ở khu vực khác nhau trên thế giới cho thấy dù về tên gọi có đôi chút khác nhau nhưng nội dung của dạy học hợp tác là đều lấy quan hệ hợp tác nhóm giữa HS với HS làm trung tâm để phát triển các mối quan hệ hợp tác giữa con người với con người; vừa là mục tiêu, vừa là điều kiện, vừa là môi trường của việc dạy học có hiệu quả. Các nghiên cứu ở Việt Nam Tư tưởng học tập hợp tác đã tồn tại ở Việt Nam từ rất lâu thể hiện qua câu tục ngữ mà ông cha ta đã đúc kết “học thầy không tày học bạn”.
Vào những năm 70, phong trào học tập theo các nhóm nhỏ đã phát triển mạnh và đem lại những kết quả khả quan. Tuy nhiên, vào thời gian đó DHHT là phong trào tự phát, chưa được nghiên cứu theo một cơ sở khoa học vững chắc nên dần dần lắng xuống. Những năm gần đây, với xu thế đổi mới PPDH theo hướng tích cực hóa hoạt động của học sinh, cùng với trào lưu hội nhập quốc tế, các nhà nghiên cứu đã nhận thấy cần phải tổ chức cho học tập hợp tác theo nhóm. Đã có đề tài nghiên cứu cấp bộ “Cải tiến tổ chức hoạt động giáo dục theo phương thức hợp tác ” do Nguyễn Thanh Bình chủ nhiệm đã làm rõ khái niệm DHHT và vận dụng mô hình học tập hợp tác ở trường THCS.
Nguyễn Hữu Châu khi viết cuốn “Những vấn đề cơ bản về chương trình và quá trình dạy học” đã đề cập đến DHHT chỉ ra rằng DHHT là sử dụng nhóm nhỏ để làm việc cùng nhau nhằm phát huy tối đa năng lực học tập của bản thân. Ông cũng cho rằng: HTHT phức tạp hơn học cá nhân, các thành viên phải biết đưa ra quyết định, xây dựng lòng tin và giải quyết mâu thuẫn và rèn kĩ năng cá nhân,học tranh đua, học tập hợp tác trở thành một mục tiêu kép trong dạy học [9]. Đặng Thành Hưng (2002) trong cuốn “Dạy học hiện đại - lí luận, biện pháp, kỹ thuật”, trên cơ sở khái quát các công trình nghiên cứu của Slavin R. đã đưa ra khái niệm nhóm hợp tác so sánh với kiểu học tranh đua và học cá nhân, chỉ ra tầm quan trọng của kĩ năng học hợp tác và các nguyên tắc đảm bảo cho DHHT thành công.
Tiếp đến trong một số bài báo như: “Hệ thống kĩ năng học tập hiện đại”, “Nhận diện và đánh giá kĩ năng”, tác giả Đặng Thành Hưng đã chỉ ra hệ thống các kỹ năng học tập trong môi trường hiện đại. Thông qua hệ thống kỹ năng học tập, tác giả cho thấy quá trình học tập chính là thiết lập các mối quan hệ tích cực, cùng nhau chia sẻ và giải quyết các vấn đề. Đây chính là những kĩ năng học tập hợp táctrong môi trường học tập hiện đại. Ngô Thị Thu Dung (2002): “Cơ sở khoa học của việc rèn KN học theo 8 z nhóm cho tiểu học bằng phương pháp dạy học theo nhóm”, dựa trên cách tiếp cận hoạt động, quan sát quá trình học hợp tác nhóm của tiểu học đã đưa ra 18 kỹ năng hợp tác cần rèn luyện.
Nguyễn Bá Kim (2006) trong “PPDH môn toán”nhận định thông qua hoạt động nhóm, cùng hoàn thành những công việc mà một mình không thể tự hoàn thành được trong một thời gian nhất định. Trong HTHT theo nhóm, có cơ hội bộc lộ, thể hiện mình về mặt giao tiếp; làm việc hợp tác; học hỏi lẫn nhau; đem lại bầu không khí đoàn kết, giúp đỡ, tin tưởng lẫn nhau. và có cơ hội rèn luyện, phát triển những KN đó. Những năm gần đây đã có một số luận án tiến sĩ nghiên cứu về dạy học theo nhóm: Trần Duy Hưng (2000) với đề tài “Tổ chức dạy học cho trung học cơ sở theo nhómnhỏ” Hoàng Lê Minh (2007) “Tổ chức dạy HHT trong môn toán ở trường trung học phổ thông”, đã hệ thống hóa một số vấn đề lí luận và vận dụng DHHT trong môn toán ở trường trung học phổ thông.
Nguyễn Triệu Sơn (2007) “Phát triển khả năng học hợp tác cho SVSP Toán một số trường đại học miền núi nhằm nâng cao chất lượng của người được đào tạo”, đã đề xuất biện phát phát triển khả năng HHT cho SVSP Toán ở một số trường đại học miền núi. Nguyễn Thành Kỉnh (2010) “Phát triển kỹ năng dạy học hợp tác cho giáo viên THCS”, đã nghiên cứu bản chất của DHHT và đề xuất một số biện pháp phát triển KN dạy học hợp tác cho giáo viên THCS thông qua hoạt động bồi dưỡng chuyên môn. Đặng Thị Thanh Bình (2011) Tạp chí khoa học ĐHSP TP HCM “ Dạy học hợp tác theo nhóm trong dạy học Hóa học ở trường THPT”. Nguyễn Quỳnh Mai Phương (2015) "Phát triển năng lực hợp tác cho HS trong dạy học phần dẫn xuất hiđrocacbon - Hóa học 11 THPT ”.
Như vậy đã có nhiều tác giả trong và ngoài nước nghiên cứu về DH theo hướng phát triển năng lực hợp tác với các cách tiếp cận khác nhau và dưới các tên gọi khác nhau như: học tập nhóm nhỏ; học tập theo quan điểm tương tác người học - người học; giáo dục hợp tác. đều khẳng định DH 9 z theo hướng phát triển năng lực hợp tác vừa phát huy được tính tích cực chủ động của , nhằm đáp ứng các yêu cầu, nhiệm vụ học tập vừa phù hợp với xu thế phát triển của DH hiện đại. Tuy nhiên, các công trình trên mới chỉ dừng lại ở nghiên cứu lí luận chung, các công trình nghiên cứu trực tiếp về DH hợp tác kết hợp với các kĩ thuật dạy học tích cực để phát triển năng lực hợp tác cho HS còn hạn chế. Định hƣớng đổi mới phƣơng pháp dạy học Hóa học 1.
Một số quan điểm chỉ đạo đổi mới giáo dục trung học Công cuộc đổi mới GDTH luôn dựa trên nền tảng những đường lối, quan điểm chỉ đạo giáo dục của Nhà nước.