đặt vấn đề và giải quyết vấn đề và những mức độ của dạy học nêu vấn đề. Trong đó, tác giả đã phân biệt khái niệm Vấn đề và Bài toán. Cùng một bài toán có thể đối với người này là có vấn đề, nhưng đối với người khác thuần túy là một bài toán. Bài toán như là phạm trù tâm lý – dạy học và logic học buộc phải thể hiện dưới dạng ngôn ngữ câu hỏi và bài tập.
Theo tác giả , tình huống có vấn đề là trạng thái tâm lí (có rung cảm nào đó ). Tác giả đã đi sâu vào phân tić h những cách thức tạo nên tình huống có vấn đề. “Tạo bài tập cho học sinh bắt gặp sự kiện, hiện tượng đòi hỏi phải giải thích về mặt lí luận; để cho học sinh phân tích những sự kiện, hiện tượng làm cho họ đụng phải mâu thuẫn giữa biểu tượng đời sống và khái niệm khoa học; đề ra giả thuyết, tổ chức nghiên cứu, kích thích học sinh khái quát sơ bộ những sự kiện mới, đề ra cho học sinh những bài tập có tính chất nghiên cứu, trình bày cho học sinh những sự kiện thoạt đầu mới nhìn dường như không giải thích được, kích thích học sinh so sánh, đối chiếu những sự kiện, hiện tượng, quy tắc hành vi”. 34] z Trong “Dạy học giải quyết vấn đề: một hướng đổi mới trong công tác giáo dục, đào tạo, huấn luyện”, Vũ Văn Tảo (1998) cho rằng: “Giải quyết vấn đề là một ý tưởng xuất hiện trong giáo dục hiện đại" lấy “vấn đề”, “chủ đề”, “tình huống có vấn đề” làm một hướng cải cách dạy học, lấy “bồi dưỡng năng lực giải quyết vấn đề” làm một yêu cầu mới của mục tiêu đào tạo”.
Qua đó, ông nêu lên đặc trưng cơ bản của dạy học giải quyết vấn đề là “tình huống có vấn đề, tình huống học tập” [21, tr. Ngoài ra, dạy học có vấn đề còn có những đặc trưng khác. Quá trình thực hiện đươ ̣c chia thành những giai đoạn, những bước có tính mục đích chuyên biệt, sự tiếp thu tri thức trong những hoạt động tư duy sáng tạo và có những cách tổ chức đa dạng.2 Dạy học phát triển năng lực: Có nhiều phương pháp được sử dụng nhằm phát triển năng lực như : Vấn đề sử dụng bài tập nhận thức trong dạy học được đặt ra từ những năm 60 của thế kỉ XX. Người đi sâu nghiên cứu vấn đề này là I.
Lerner, nhà giáo dục học người Nga. Ông có hẳn một công trình nghiên cứu về vấn đề này, mang tên “Bài tập nhận thức”. Công trình này đã được hai dịch giả Nguyễn Cao Lũy và Văn Chu (Viện Chương trình và phương pháp – Bộ Giáo dục) dịch sang tiếng Việt. Việc sử dụng bài tập nhận thức trong dạy học được các nhà nghiên cứu ở Việt Nam khẳng định là điều kiện cần thiết để phát triển tư duy học sinh [28] Hiện nay, ngoài công trình của I.TS Lê Đình Trung, TS.
Vũ Đức Lưu [ 24],[16], đã có công trình nghiên cứu về Bài tập nhận thức được xuất bản, làm tài liệu tham khảo cho giáo viên. Tài liệu này nhằm phát huy tính tích cựu, tự lực của học sinh trong quá trình học tập. Tuy nhiên việc xây dựng bài toán nhận thức trong dạy học sinh học còn rất hạn chế, giáo trình phương pháp dạy học sinh học viết: “Bài tập nhận thức hiện còn mới mẻ đối với việc học sinh học ở trường phổ thông ở nước ta. Từ thực tiễn, chúng ta sẽ bổ sung nhận thức lý luận và kinh nghiệm thực hành của loại bài tập này”.
Sử dụng giải quyết vấn đề ngoài việc phát triển năng lực còn phát huy tính tích cực hoạt động, đề cao vai trò chủ thể của học sinh trong quá trình lĩnh hội tri thức. Có nhiều tác giả đã nghiên cứu sâu về dạy học giải quyết vấn đề vào một số phân môn như Đinh Quang Báo, Nguyễn Đức Thành, Vũ Đức Lưu , Trần Bá Hoành. Các tác giả nêu trên đều đưa đến kết luận việc vận dụng dạy học giải quyết vấn đề là rất hiệu quả trong tổ chức dạy học. z Trong điều kiện như vậy, việc tìm ra cách thức xây dựng dạy học giải quyết vấn đề vào thực tế dạy học một cách có hiệu quả là rất cần thiết.3 Dạy học sinh thái học: Ở Việt Nam có nhiều tài liệu nghiên cứu về phương pháp dạy học sinh học trong đó có đề cập đến phương pháp dạy học kiến thức sinh thái như “Giáo trình dạy học”, “Dạy học giải quyết vấn đề trong bộ môn Sinh học”, “dạy học Sinh Học ở trường THPT” của Trần Bá Hoành.
Ngoài ra còn có một số luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục nghiên cứu phương pháp dạy học sinh thái khác của các Trường đại học sư phạm Hà Nội, Trường Đại học Giáo Dục-Đại học Quốc Gia Hà Nội,… Như vậy, việc nghiên cứu phương pháp dạy học sinh thái đã được chú ý nhưng còn hạn chế,các nghiên cứu về phương pháp dạy học đã nêu chưa đi sâu vào phân tích mối quan hệ giữa phát triển năng lực học tập của HS theo phương pháp giải quyết vấn đề vào sinh thái học. Do đó, việc vận dụng kiến thức GQVĐ để tổ chức học sinh phát triển năng lực học tập kiến thức sinh thái chưa được nghiên cứu cụ thể. Thuật ngữ “dạy học nêu vấn đề” xuất phát từ thuật ngữ “Orixtic” hay còn gọi là phương pháp phát kiến, tìm tòi. Nó có tên gọi là “Dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề”, xuất hiện vào năm 1970 tại trường Đại học Hamilton – Canađa, sau đó phát triển nhanh chóng tại trường Đại học Maastricht – Hà Lan.
Theo triết học duy vật biện chứng, trong tự nhiên và xã hội thì mọi sự vật, hiện tượng đều chứa đựng những mâu thuẫn bên trong. Việc phát hiện và giải quyết các mâu thuẫn đó là động lực thúc đẩy quá trình vận động và phát triển của sự vật và hiện tượng. Việc giải quyết mâu thuẫn là nguồn gốc của mọi sự vận động và phát triển tư duy của quá trình nhận thức. Trong dạy học nêu và giải quyết vấn đề, nhiệm vụ trung tâm là tạo ra tình huống có vấn đề (mâu thuẫn), phát triển thành vấn đề và giải quyết vấn đề.
Vấn đề đặt ra cho học sinh trong quá trình học tập chính là mâu thuẫn giữa yêu cầu của nhiệm vụ nhận thức với kinh nghiệm sẵn có. Như vậy, cơ sở triết học của dạy học nêu vấn đề là: Chuyển phương pháp biện chứng để giải quyết mẫu thuẫn nói chung thành phương pháp sư phạm và sau đó giải quyết mâu thuẫn trong quá trình tiếp thu kiến thức mới. z Theo tâm lý học: “các quy luật của tư duy và các quy luật của quá trình tiếp thu kiến thức ở mức độ đáng kể là trùng nhau. Do đó, những quy luật tâm lý của tư duy cũng quyết định quá trình tiếp thu kiến thức”.
Mặt khác, theo các nhà tâm lý học, “con người chỉ bắt đầu tư duy tích cực khi bắt đầu nảy sinh nhu cầu tư duy, tức là khi đứng trước một khó khăn về nhận thức cần khắc phục, một tình huống có vấn đề”. Dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề phù hợp với nguyên tắc tính tích cực, tự giác, vì nó khêu gợi được hoạt động học tập mà chủ thể được hướng đích, gợi động cơ trong quá trình phát hiện và giải quyết vấn đề. Dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề cũng biểu hiện sự thống nhất giữa kiến tạo tri thức, phát triển năng lực trí tuệ và bồi dưỡng phẩm chất. Những tri thức mới (đối với học sinh) được kiến tạo nhờ quá trình phát hiện và giải quyết vấn đề.
Tác dụng phát triển năng lực trí tuệ của kiểu dạy học này là ở chỗ học sinh học được cách khám phá, tức là rèn luyện cho họ cách thức phát hiện, tiếp cận và giải quyết vấn đề một cách khoa học. Đồng thời, dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề cũng góp phần bồi dưỡng cho người học những đức tính cần thiết của người lao động sáng tạo như tính chủ động, tích cực, tính kiên trì vượt khó, tính kế hoạch và thói quen tự kiểm tra. Khái niệm học. Học ngày nay được nhìn nhận bằng nhiều góc độ khác nhau.
Học vẫn còn là một quá trình bí ẩn, chưa khám phá được một cách đầy đủ về cơ chế của quá trình học diễn ra trong não như thế nào. Nếu quan tâm đến kết quả cuối cùng đạt được là sản phẩm học hay hành vi nhận biết được. Đó là cách tiếp cận theo hành vi – đáp lại phản xạ của PavLôp, tiếp cận theo hành vi – tác động phản xạ có điều kiện: “Dạy là thành lập những phản xạ có điều kiện, hình thành ở đối tượng những kinh nghiệm hành động, học là hình thành cho mình những phản ứng trả lời mới chưa có trong vốn phản xạ không điều kiện được di truyền”. Hay hành vi tác động, phản xạ có điều kiện của Skinner: “ Học là quá trình làm biến đổi hành vi từ kinh nghiệm hay là từ sự tiếp xúc với môi trường sống của chủ thể”.
Nếu quan tâm đến quá trình học bằng cách tìm hiểu những gì đã xảy ra trong trí óc người học, trong hộp đen, tức là cách tiếp cận về trí tuệ, theo bước chân Piaget với cơ chế đồng hoá, điều ứng, cân bằng… hay Vưgốtski với vùng phát triển gần [27] “ Học là quá trình biến đổi và cân bằng cấu trúc nhận thức để thích nghi với môi trường” hay “ Học là tích hợp, đồng hoá, điều ứng, nhập nội những dữ liệu mới làm biến đổi cấu trúc nhận thức nội tại hiện có” .Nếu kết hợp hai z vấn đề trên thành một mô hình quá trình thông tin với các thuật ngữ: thu nhận, xử lý, chương trình hoá… thì “ Học là tự tạo ra khả năng xác định vấn đề cần giải quyết, thu nhận, xử lý thông tin và ứng dụng chương trình giải quyết vấn đề”. Cơ sở để hình thành, phát triển của giáo dục là người học, việc học. Vì vậy, giải quyết vấn đề giáo dục là giải quyết vấn đề học mà nội dung cơ bản là mục đích học, nội dung học, phương pháp học, quản lí việc học, đánh giá việc học, cơ sở vật chất phục vụ việc học. Có giải quyết được việc học mới nghĩ đến giải quyết việc dạy; như vậy khác với quan niệm trước đây, ngày nay cho rằng học quy đinh dạy.
Đối tượng của giáo dục là người học, mà người học là người đi học chứ không phải là người được dạy. Người học là người với năng lực cá nhân của mình tham gia vào việc tìm ra kiến thức mới cho mình.