CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC GIAO TIẾP VÀ HỢP TÁC CHO HỌC SINH LỚP 2 TRONG DẠY HỌC MÔN TỰ NHIÊN VÀ XÃ HỘI 1. Các khái niệm cơ bản 1. Năng lực Trong các nghiên cứu gần đây, có rất nhiều tác giả đã đưa ra các quan điểm, khái niệm về NL. - Năng lực là “khả năng thực hiện, làm việc dựa trên hiểu biết chắc chắn, kĩ năng thuần thục và thái độ phù hợp” - Theo tác giả Bùi Minh Đức viết trong bài “Năng lực và vấn đề phân loại năng lực trong các nghiên cứu hiện nay”.
[4] Định nghĩa này giả định rằng đặc điểm xác định chính của một kỹ năng là "hiệu quả", nhưng nó không làm rõ cấu trúc và "phương hướng" tồn tại của kỹ năng. Weinert cho rằng NL là "tổng hợp các kỹ năng và khả năng hiện có hoặc đã học được, cũng như sự sẵn sàng của học sinh để giải quyết các vấn đề phát sinh và hành động có trách nhiệm và nghiêm túc để đạt được các giải pháp". [23] - Theo Denyse Tremblay: NL là "khả năng hành động, thành công và tiến bộ dựa trên việc huy động và sử dụng hiệu quả tổng hợp các nguồn lực để đối phó với các tình huống trong cuộc sống." [22] - Các tác giả Việt Nam đã cố gắng xác định NL và xác định cấu trúc NL để xây dựng Chương trình GDPT 2018. Từ những nghiên cứu này, rõ ràng là các kỹ năng được thể hiện thông qua các hoạt động và được đánh giá bằng hiệu quả của các hoạt động.
Đặc điểm này cung cấp cho chúng ta các tiêu chí để xác định NL. Vì bất kỳ hoạt động nào đều có mục đích sẽ được chia thành các hành vi (không có mục đích cụ thể), nên chúng được đánh giá dựa trên các hành vi này. NL có 10 thể chia thành: các thành phần NL, các chỉ số hành vi và đánh giá mức độ trưởng thành của các hành vi này theo tiêu chí chất lượng. Dựa trên kết quả nghiên cứu trước đây, chương trình GDPT tổng thể giải thích khái niệm NL như sau: “Năng lực là đặc điểm riêng của cá nhân, được hình thành và phát triển thông qua các phẩm chất vốn có và quá trình học tập, rèn luyện, là năng lực cho phép con người huy động tổng hợp các kiến thức, năng lực và những đặc điểm khác của cá nhân như hứng thú, niềm tin, ý chí,.
để thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện nhất định.” [1] Theo Từ điển Tiếng Việt, NL có nghĩa là trải qua một quá trình học tập, nghiên cứu nhất định, con người sẽ có khả năng thực hiện được một công việc hoặc một mục đích nào đó. Cũng có thể hiểu năng lực là cái vốn có về “vật chất hoặc tinh thần để có thể làm được việc gì”.[17] Cách hiểu của Từ điển Bách khoa Việt Nam: “Năng lực là đặc điểm của cá nhân thể hiện mức độ thông thạo - tức là có thể thực hiện một cách thành thục và chắc chắn - một hay một số dạng hoạt động nào đó.” [7] Cách hiểu của Đặng Thành Hưng: “Năng lực là thuộc tính cá nhân cho phép cá nhân thực hiện thành công hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể.” [8] Do đó, NL không phải là một đặc điểm tâm lý độc lập (là khả năng nhận thức, trí nhớ, v.) mà là tổng hợp của các đặc điểm tâm lý cá nhân. Nó là một thực thể hữu cơ có thể đáp ứng nhu cầu hoạt động và đảm bảo hoạt động mang lại kết quả như mong đợi. NL được hiểu là sự kết hợp linh hoạt, có tổ chức giữa kiến thức, kỹ năng với thái độ, tình cảm, giá trị, động cơ cá nhân.
để giải quyết hiệu quả một yêu cầu phức tạp của hành động trong một bối cảnh nhất định. Năng lực thể hiện sự vận dụng tổng hợp nhiều yếu tố (phẩm chất, kiến thức và kỹ năng của người lao 11 động) thể hiện trong các hoạt động cá nhân để thực hiện một loại công việc cụ thể. NL là sự kết hợp của các yếu tố cơ bản mà tất cả người lao động và công dân nên có đó là những NL chung và cơ bản. Như vậy, có thể hiểu, NL là khả năng vận dụng mọi yếu tố vốn có của bản thân hoặc được hình thành và phát triển qua học tập, trau dồi để giải quyết những vấn đề trong học tập cũng như trong cuộc sống của con người, nhằm mang lại một kết quả cao.
Năng lực giao tiếp và hợp tác Giao tiếp là quá trình chia sẻ thông tin giữa người nói và người nghe để đạt được một mục đích cụ thể. Giao tiếp nhằm mục đích hướng đến thúc đẩy các mối quan hệ trong xã hội trở nên tốt đẹp hơn. Giao tiếp có thể thông qua ngôn ngữ hoặc thông qua các hệ thống ký hiệu khác. Giao tiếp thông qua ngôn ngữ là hoạt động giao tiếp quan trọng nhất trong cuộc sống của con người.
Khái niệm NL giao tiếp đã có từ những năm 1970. Từ đó trở đi, khái niệm NL giao tiếp đã được nghiên cứu sâu rộng, nói đến việc sử dụng ngôn ngữ sao cho phù hợp và hiệu quả trong các tình huống xã hội nhất định. Abbou, khả năng giao tiếp trong khía cạnh xã hội được coi là nhiều hơn ngôn ngữ. Theo Abbou, NL giao tiếp của một người là "tổng hợp năng lực vốn có và các khả năng thực hiện được hệ thống tiếp nhận và diễn giải các tín hiệu xã hội có được theo đúng như tập hợp các chỉ dẫn và quy trình đã được xây dựng và phát triển để tạo ra trong một tình huống xã hội các hành xử phù hợp với việc xem xét các dự định của mình”.
[18] Từ quan điểm ngôn ngữ học, Bautier – Casting lại cho rằng “năng lực vốn có của người nói để hiểu một tình huống trao đổi ngôn ngữ và trả lời một cách thích hợp, bằng ngôn ngữ hay không bằng ngôn ngữ”. Giao tiếp giúp HS suy nghĩ để trình bày những phát hiện của mình một cách rõ ràng và thuyết phục người khác. Trong quá trình giao tiếp, các ý kiến cũng được đánh giá, nhìn nhận dưới nhiều góc độ giúp mọi người hiểu sâu hơn vấn đề. HS không chỉ giao tiếp bằng lời nói mà còn được thể hiện qua ánh mắt, cử chỉ, điệu bộ.
12 Theo tác giả Phan Văn Kha, hợp tác có nghĩa là cùng nhau hợp tác giúp đỡ nhau trong một công việc, một lĩnh vực cụ thể, vì một mục tiêu chung. Sự hợp tác xảy ra theo hai cách: Thể hiện khả năng làm việc hiệu quả và tôn trọng với các nhóm đa dạng [9]. Sử dụng tính linh hoạt và hữu ích để thực hiện các thỏa hiệp cần thiết nhằm đạt được mục tiêu chung: chấp nhận trách nhiệm chung đối với công việc tập thể và những đóng góp cá nhân có giá trị của từng thành viên trong nhóm. Hợp tác trong lớp học là sự kết hợp giữa tính tập thể và tính cá nhân, thực hiện các hành động có cơ sở khoa học nhằm tổ chức và điều khiển các bối cảnh vận động và phát triển theo một trình tự cụ thể nhằm mang lại hiệu quả dạy học tốt.
Trong quá trình giao tiếp, ý kiến được đánh giá và nhìn nhận dưới nhiều góc độ giúp mọi người hiểu sâu hơn vấn đề. Như vậy, có thể hiểu rằng NL giao tiếp và hợp tác là một năng lực phức hợp, là khả năng nhận biết tình thế trong mối quan hệ với người khác, biết chia sẻ, trao đổi thông tin, biết chịu trách nhiệm và cùng làm việc hiệu quả với các thành viên khác. Các thành tố, biểu hiện và tiêu chí đánh giá của NL giao tiếp và hợp tác 1.1 Các thành tố và biểu hiện của NL giao tiếp và hợp tác Năng lực giao tiếp và hợp tác được CT GDPT2018 xây dựng dựa trên các thành tố và biểu hiện của người học theo những thành tố đó. Thành tố Biểu hiện 1.
Xác định mục đích, nội - Nhận ra được ý nghĩa của giao tiếp trong việc dung, phương tiện và thái độ đáp ứng các nhu cầu của bản thân. giao tiếp - Tiếp nhận được những văn bản về đời sống, tự nhiên và xã hội có sử dụng ngôn ngữ kết hợp với hình ảnh minh họa như truyện tranh, bài viết đơn giản. 13 - Bước đầu biết sử dụng ngôn ngữ kết hợp với hình ảnh minh họa, cử chỉ để trình bày thông tin và ý tưởng. - Tập trung chú ý khi giao tiếp; nhận ra được thái độ của đối tượng giao tiếp.
Thiết lập, phát triển các - Biết cách kết bạn và giữ gìn tình bạn. quan hệ xã hội; điều chỉnh - Nhận ra được những bất đồng, xích mích giữa và hoá giải các mâu thuẫn bản thân với bạn hoặc giữa các bạn với nhau - Biết nhường bạn hoặc thuyết phục bạn. Xác định mục đích và Có thói quen trao đổi, giúp đỡ nhau trong học tập; phương thức hợp tác biết cùng nhau hoàn thành nhiệm vụ học tập theo sự hướng dẫn của giáo viên. Xác định trách nhiệm và Hiểu được nhiệm vụ của nhóm và trách nhiệm, hoạt động của bản thân hoạt động của mình trong nhóm sau khi được hướng dẫn, phân công.
Xác định nhu cầu và khả Nhận biết được một số đặc điểm nổi bật của các năng của người hợp tác thành viên trong nhóm để đề xuất phương án phân công công việc phù hợp. Tổ chức và thuyết phục Biết cố gắng hoàn thành phần việc mình được người khác phân công và chia sẻ giúp đỡ thành viên khác cùng hoàn thành việc được phân công. Đánh giá hoạt động hợp Báo cáo được kết quả thực hiện nhiệm vụ của cả tác nhóm; tự nhận xét được ưu điểm, thiếu sót của bản thân theo hướng dẫn của giáo viên. 14 Thành tố Biểu hiện 8.
Hội nhập quốc tế - Có hiểu biết ban đầu về một số nước trong khu vực và trên thế giới. - Biết tham gia một số hoạt động hội nhập quốc tế theo hướng dẫn. Hiện nay, thực hiện định hướng phát triển phẩm chất, NL cho người học, các phòng, sở đã triển khai tới các trường nội dung này. Đi vào thực tế các tiết dạy, GV cần phải điều chỉnh các hình thức, phương pháp tổ chức dạy học một cách linh hoạt để phát triển NL cụ thể cho HS.
- Một người hiểu biết hợp tác là người có thể nói rõ khái niệm, mục đích và tầm quan trọng của việc làm việc cùng nhau, phân tích quá trình hợp tác, các hình thức hợp tác nhóm, kỹ thuật làm việc của nhóm, vai trò của từng vị trí trong nhóm.