Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn. Chương 2: Một số biện pháp phát triển năng lực giải toán cho học sinh lớp 10 thông qua dạy học chủ đề vectơ. Chương 3: Thực nghiệm sư phạm. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THUC TIEN 1.
Một số quan điểm về năng lực - Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam [5]: “Năng lực là đặc điểm của cá nhân thể hiện mức độ thông thạo - tức là có thé thực hiện một cách thành thục và chắc chắn — một hay một số dạng hoạt động nào đó”. - Theo Từ điển Tiếng Việt [13]: “Năng lực là pham chất tâm lí và sinh lí tạo cho con người khả năng hoàn thành một loại hoạt động nào đó với chất lượng cao”. - Theo Từ điển tâm lí học [4]: “Năng lực là tập hợp các tính chất hay phẩm chat của tâm lí cá nhân, đóng vai trò là điều kiện bên trong, tạo thuận lợi cho việc thực hiện tốt một dang hành động nhất định”. - Theo tổ chức hợp tác va phát triển kinh tế thé giới OECD[10] thì “Năng lực là kha năng đáp ứng các yêu cầu phức hợp và thực hiện thành công nhiệm vụ trong một bối cảnh cụ thể.
Krutetxki [3] thì: “Năng lực được hiểu như là : một phức hợp đặc điểm tâm lý cá nhân của con người đáp ứng những yêu cầu của một hoạt động nào đó và là điều kiện để thực hiện thành công hoạt động đó ”. Như vậy có nhiều cách định nghĩa về NL, tuy nhiên, chúng tôi đồng tình với cách hiểu về khái niệm NL được trình bày trong Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể [1] ban hành kèm theo Thông tư số 32/2018/TT- BGDDT ngày 26 tháng 12 năm 2018: “Năng lực là thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ to chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép con người huy động tổng hợp các kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thi, niềm tin, ý chí,. thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định, dat kết qua mong muốn trong những điều kiện cụ thể”. Các năng lực cần phát triển cho học sinh Trong chương trình giáo dục phổ thông tổng thé đã nêu ra những NL cốt lõi cần hình thành và phát triển cho HS là: a) Những NL chung được hình thành, phát triển thông qua tất cả các môn học và hoạt động giáo dục: NL tự chủ và tự học, NL giáo tiếp và tập hợp tac, NL giải quyết van dé và sáng tạo.
b) Những NL đặc thù được hình thành, phát triển chủ yếu thông qua một số môn học và hoạt động giáo dục nhất định: NL ngôn ngữ, NL tính toán, NL khoa học, NL công nghệ, NL tin học, NL thâm mỹ, NL thể chất. Bên cạnh việc hình thành, phát triển các NL cốt lõi, chương trình giáo dục phổ thông còn góp phan phát hiện, bồi dưỡng năng khiếu của HS. Năng lực toán học 12L Mot số quan điểm về năng lực toán hoc Theo V.Krutetxki [3], NL toán hoc được hiéu theo 2 nghĩa, 2 mức độ: “Một là, theo ý nghĩa năng lực học tập (tái tạo) tức là năng lực đối với việc học Toán, đối với việc nắm giáo trình Toán học ở trường phổ thông , năm một cách nhanh và tốt các kỹ thuật, kỹ năng, kỹ xảo tương ứng. Hai là, theo ý nghĩa năng lực sáng tạo (khoa học) , tức là năng lực hoạt động sáng tạo Toán học, tạo ra những kết quả mới, khách quan có giá trị lớn đối với xã hội loài người”.
Gitta hai mức độ hoạt động toán học đó không có một sự ngăn cách tuyệt đối. Nói đến NL học tập Toán không phải là không đề cập tới NL sáng tạo. Có nhiều em HS có NL, đã nắm giáo trình Toán học một cách độc lập và sang tạo, đã tự đặt và giải các bài toán không phức tap lắm, đã tự tìm ra các con đường, các phương pháp sáng tạo để chứng minh cách định lí, độc lập suy ra các công thức, tự tìm ra các phương pháp giải độc đáo những bài toán mẫu mực. Theo Blomhoj và Jensen (2007): “Năng lực toán học là khả năng san sàng hành động để đáp ứng với thách thức toán học của các tình huống nhất định”, theo Niss (1999): “Năng lực toán học như khả năng của cá nhân 8 dé sử dụng các khái niém toán học trong một loạt các tình huống có liên quan đến toán học, kể cả những lĩnh vực bên trong hay bên ngoài của toán học (dé hiểu, quyết định và giải thích)” [17].
Theo tác giả Phạm Việt Sơn [7] “ Năng lực toán học là các đặc điểm tâm lý cá nhân (trước hết là các đặc điểm của hoạt động trí tuệ) đáp ứng yêu cau hành động toán học và giúp cho việc hiểu, vận dụng tri thức, kỹ năng, kỹ xảo toán học một cách nhanh chóng, dé dàng, chính xác, sáng tạo. Năng lực toán học của một cá nhân thường được nhận biết và đánh giá dựa trên các khả năng của cá nhân về: khái quát hóa, trừu tượng hóa, tưởng tượng không gian, tư duy logic và mềm dẻo , trí nhớ, khả năng tập trung chú ý khi tiếp thu các vấn dé mới, khả năng rút gọn quá trình suy luan,. Khi giải toán, các NL toán học bộc lộ rõ nhất và cũng chính hành động này đòi hỏi nhiều nhất các phẩm chất toán học của cá nhân. Các thành tổ của năng lực toán học Theo Chương trình giáo dục phổ thông tổng thé [1] thì các thành tố của NL toán học là: a.
Năng lực tư duy và lập luận toán học Thể hiện qua việc thực hiện được các hành động: - So sánh; phân tích; tổng hợp; đặc biệt hóa, khái quát hóa; tương tư; quy nạp; điển dịch. - Chỉ ra được chứng cứ, lí lẽ và biết lập luận hợp lí trước khi kết luận. - Giải thích hoặc điều chỉnh cách thức giải quyết vấn đề về phương diện toán học. Năng lực mô hình hóa toán học Thể hiện qua việc thực hiện được các hành động: - Sử dụng các mô hình toán học (gồm công thức, phương trình, bảng biểu, đồ thi,.) dé mô ta các tình huống đặt ra trong các bai toán thực tế.
- Giải quyết các van dé toán hoc trong mô hình được thiết lập. - Thể hiện và đánh giá lời giải trong ngữ cảnh thực tế và cải tiến mô hình nếu cách giải quyết không phù hợp. Năng lực giải quyết vấn đề toán học Thể hiện qua việc thực hiện được các hành động: - Nhận biết, phát hiện được vấn đề cần giải quyết băng toán học. - Đề xuất, lựa chọn được cách thức, giải pháp giải quyết vấn đẻ.
- Sử dụng được các kiến thức, kĩ năng toán học tương thích (bao gồm các công cụ và thuật toán) dé giải quyết van dé đặt ra. - Đánh giá giải pháp dé ra và khái quát hóa cho van dé tương tự. Năng lực giao tiếp toán học Thẻ hiện qua việc thực hiện được các hành động: - Nghe hiểu, đọc hiểu và ghi chép được các thông tin toán học can thiết được trình bày dưới dạng văn bản toán học hay do người khác nói hoặc viết ra. - Trinh bay,dién đạt (nói hoặc viết) được các nội dung , ý tưởng, giải pháp toán học trong sự tương tác với người khác (với yêu câu thích hợp về sự day đủ, chính xác) - Sử dụng hiệu quả ngôn ngữ toán học (chữ số, chữ cái, kí hiệu, biểu đô, đồ thị, các liên kết logie,.) kết hợp với ngôn ngữ thông thường hoặc động tác hình thể khi trình bày, giải thích và đánh giá các ý tưởng toán học trong sự tương tác (thảo luận, tranh luận) với người khác.
Năng lực sử dụng công cụ, phương tiện học toán Thể hiện qua việc thực hiện được các hành động: - Biết tên gọi, tác dụng, quy cách sử dụng, cách thức bảo quản các dé dùng, phương tiện trực quan thông thường, phương tiện khoa học công nghệ (đặc biệt là phương tiện sử dụng công nghệ thông tin) phục vụ cho việc học toán. - Sử dụng thành thạo và linh hoạt các công cụ và phương tiện học toán, đặc biệt là phương tiện khoa học công nghệ dé tìm tòi, khám pha và giải quyết vấn dé toán học (phù hợp với đặc điểm nhận thức lứa tuổi). - Chỉ ra được các ưu điểm, hạn chế của những công cụ, phương tiện hỗ trợ để có cách sử dụng hợp lí. Năng lực giải toán Theo Dinh Văn Từ [19], NL giải toán là một phần của NL toán học, là khả năng áp dụng tiến trình thực hiện việc giải quyết một vấn dé có tinh hướng đích cao, đòi hỏi huy động khả năng tư duy tích cực và sáng tạo, nhằm đạt kết quả cao sau một số bước thực hiện.
Một người được coi là có NL giải toán nếu người đó nắm vững tri thức, kĩ năng, kĩ xảo của hoạt động giải toán và đạt được kết quả cao so với trình độ trung bình của những người khác cùng tiến hành hoạt động đó trong các điều kiện tương đương. Trong cuốn “Sáng tạo toán học” của G. Polya [12] đã viết: “Quá trình giải toán là tìm kiếm một lối thoát ra khỏi khó khăn hoặc một con đường vượt qua trở ngại, đó chính là quá trình đạt tới một mục đích mà thoạt nhìn dường như không thé đạt được ngay. Giải toán là khả năng riêng biệt của trí tuệ, còn trí tuệ chỉ có ở con người.
Vì vậy giải toán có thể xem như một trong những biểu hiện đặc trưng nhất trong hoạt động của con người”. Cũng theo Dinh Văn Từ [19], NL giải toán bao gồm 8 thành tổ là: NL dự đoán van dé, NL chuyển đổi ngôn ngữ, NL quy lạ về quen nhờ biến đổi về dạng tương tự, NL nhìn nhận bài toán dưới nhiều góc độ khác nhau, NL phân chia trường hợp, NL suy luận logic, NL khái quát hóa, NL diễn đạt bài toán theo những cách khác nhau. Từ những thành tố của NL toán học đã được nêu ra trong Chương trình pho thông tổng thé ban hành ngày 26/12/2018, trong phạm vi nghiên cứu của luận văn, chúng tôi đưa ra quan điểm về khái niệm NL giải toán và một số thành tố của NL giải toán có thể hình thành và phát triển thông qua DH chủ dé vectơ (Hình học 10) như sau : + NL giải toán là một phan của NL toán học được hình thành, rèn luyện và phát triển chủ yêu thông qua hoạt động giải toán. + Một số thành tố của NL giải toán có thé hình thành và phát triển cho HS là: Thanh tố thứ nhất: Hiểu và có kỹ năng diễn đạt được thông tin toán học.