phần Mở đầu, Danh mục tài liệu tham khảo và Phụ lục, Kết luận, Khóa luận có 3 chƣơng: Chƣơng 1: Một số vấn đề về lí luận và thực tiễn về phát triển năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề trong dạy học chủ đề đƣờng thẳng và mặt phẳng trong không gian, quan hệ song song ở trƣờng trung học phổ thông. Chƣơng 2: Một số biện pháp nhằm phát triển năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề cho học .sinh thông qua dạy học chủ đề đƣờng thẳng và mặt phẳng trong không gian, quan hệ song song ở trƣờng phổ thông. Chƣơng 3: Thực nghiệm sƣ phạm. 10 Chƣơng 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC PHÁT HIỆN VÀ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ TRONG DẠY HỌC CHỦ ĐỀ ĐƢỜNG THẲNG VÀ MẶT PHẲNG TRONG KHÔNG GIAN.
QUAN HỆ SONG SONG Ở TRƢỜNG THPT 1. Năng lực, năng lực toán học, năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề 1. Năng lực Theo quan điểm của những nhà tâm lý học: Năng lực là tổng hợp các đặc điểm, thuộc tính tâm lý của cá nhân phù hợp với yêu cầu đặc trƣng của một hoạt động nhất định nhằm đảm bảo cho hoạt động đó đạt hiệu quả cao. Các năng lực hình thành trên cơ sở của các tƣ chất tự nhiên của cá nhân nó đóng vai trò quan trọng, năng lực của con ngƣời không phải hoàn toàn do tự nhiên mà có, phần lớn do công tác, do tập luyện mà có.
Tâm lý học chia năng lực thành các dạng khác nhau nhƣ năng lực chung và năng lực chuyên môn. - Năng lực chung là năng lực cần thiết cho nhiều ngành hoạt động khác nhau nhƣ năng lực phán xét tƣ duy lao động, năng lực khái quát hoá, năng lực tƣởng tƣợng. - Năng lực chuyên môn là năng lực đặc trƣng trong lĩnh vực nhất định của xã hội nhƣ năng lực tổ chức, năng lực âm nhạc, năng lực kinh doanh, hội hoạ, toán học. Năng lực chung và năng lực chuyên môn có quan hệ qua lại hữu cơ với nhau, năng lực chung là cơ sở của năng lực chuyên môn, năng lực chung càng phát triển thì càng dễ thành đạt đƣợc năng lực chuyên môn.
Ngƣợc lại sự phát triển của năng lực chuyên môn trong những điều kiện nhất định lại có ảnh hƣởng đối với sự phát triển của năng lực chung. Trong thực tế mọi hoạt động có kết quả và hiệu quả cao thì mỗi ngƣời đều phải có năng lực chung phát triển ở trình độ cần thiết và có một vài năng lực chuyên môn tƣơng ứng với lĩnh vực công 11 việc của mình. Những năng lực cơ bản này không phải là bẩm sinh, mà nó phải đƣợc giáo dục phát triển và bồi dƣỡng ở con ngƣời. Năng lực của một ngƣời phối hợp trong mọi hoạt động là nhờ khả năng tự điều khiển, tự quản lý ở cá nhân đƣợc hình thành trong quá trình sống và giáo dục của mỗi ngƣời.
Năng lực còn đƣợc hiểu theo một cách khác, năng lực là tính chất tâm sinh lý của con ngƣời chi phối quá trình tiếp thu kiến thức, kỹ năng và kỹ xảo tối thiểu là cái mà ngƣời đó có thể dùng khi hoạt động. Trong điều kiện bên ngoài nhƣ nhau, những ngƣời khác nhau có thể tiếp thu các kiến thức kỹ năng và kỹ xảo đó với nhịp độ khác nhau: có ngƣời tiếp thu nhanh, có ngƣời phải mất nhiều thời gian và sức lực mới tiếp thu đƣợc, ngƣời này có thể đạt đƣợc trình độ điêu luyện cao còn ngƣời khác chỉ đạt đƣợc trình trung bình nhất định tuy đã hết sức cố gắng. Thực tế cuộc sống có một số hình thức hoạt động nhƣ nghệ thuật, khoa học, thể thao.những hình thức mà chỉ những ngƣời có một số năng lực nhất đinh mới có thể đạt kết quả. Để nắm đƣợc cơ bản các dấu hiệu khi nghiên cứu bản chất của năng lực ta cần phải xem xét trên một số khía cạnh sau: - Năng lực là sự khác biệt tâm lý của cá nhân ngƣời này khác ngƣời kia, nếu một sự việc thể hiện rõ tính chất mà ai cũng nhƣ ai thì không thể nói về năng lực.
- Năng lực chỉ là những khác biệt có liên quan đến hiệu quả việc thực hiện một hoạt động nào đó chứ không phải bất kỳ những sự khác nhau cá biệt chung chung nào. - Khái niệm năng lực không liên quan đến những kiến thức kỹ năng, kỹ xảo đã đƣợc hình thành ở một ngƣời nào đó. Năng lực chỉ làm cho việc tiếp thu các kiến thức kỹ năng, kỹ xảo trở nên dễ đàng hơn. - Năng lực con ngƣời bao giờ cũng có mầm mống bẩm sinh tuỳ thuộc vào sự tổ chức của hệ thống thần kinh trung ƣơng, nhƣng nó chỉ đƣợc phát triển trong quá trình hoạt động phát triển của con ngƣời, trong xã hội có bao nhiêu hình thức hoạt động của con ngƣời thì cũng có bấy nhiêu loại năng lực: có ngƣời có năng lực về điện, có ngƣời có năng lực về lái máy bay, có ngƣời có năng lực 12 về thể thao.
Năng lực của ngƣời lãnh đạo quản lý chính là năng lực tổ chức, Lê-nin đã vạch ra đầy đủ cấu trúc của năng lực tổ chức chỉ ra những thuộc tính cần thiết cho ngƣời cán bộ tổ chức là bất cứ ngƣời lãnh đạo nào cũng cần phải có: “Sự minh mãn và tài xắp xếp công việc”, “sự hiểu biết mọi ngƣời - tính cởi mở hay là năng lực thâm nhập vào các nhóm ngƣời”, “ sự sắc sảo về trí tuệ và óc tháo vát thực tiễn”, “các phẩm chất ý chí`”, “Khả năng hiểu biết mọi ngƣời và kỹ năng tiếp xúc với con ngƣời”. Do đó khi xem xét kết quả công việc của một ngƣời cần phân tích rõ những yếu tố đã làm cho cá nhân hoàn thành công việc, ngƣời ta không chỉ xem cá nhân đó làm gì, kết quả ra sao mà còn xem làm nhƣ thế nào chính năng lực thể hiện ở chỗ ngƣời ta làm tốn ít thời gian, ít sức lực của cải vật chất mà kết quả lại tốt. Khóa luận dựa theo quan điểm trong kết luận của Hội nghị giữa Hội đồng giáo dục và các Bộ trƣởng Giáo dục và Đào tạo việc làm của Australia (9/12), theo đó NL cơ bản của ngƣời lao động cần có đƣợc đề ra là: (1) NL thu nhập, phân tích và tổ chức thông tin; (2) NL giao tiếp, truyền đạt ý tưởng thông tin; (3) NL lập kế hoạch và tổ chức hoạt động; (4) NL làm việc với đối tác theo nhóm; (5) NL sử dụng TD TH và kỹ thuật; (6) NL giải quyết vấn đề; (7) NL sử dụng công nghệ” [3. Năng lực toán học của học sinh phổ thông a.
Năng lực của học sinh phổ thông Năng lực của HS phổ thông không chỉ là khả năng tái hiện tri thức, thông hiểu tri thức, mà quan trọng là khả năng hành động, ứng dụng, vận dụng tri thức để giải quyết vấn đề của cuộc sống, càng sáng tạo càng tốt. Trên thế giới cũng nhƣ ở Việt Nam các quốc gia đều đƣa ra những năng lực thiết yếu cần có cho học sinh. Chẳng hạn: 13 - Singapo đề ra tám nhóm NL thiết yếu của HS gồm: (1) NL phát triển tính cách; (2) NL tự điều khiển bản thân;(3) NL xã hội và hợp tác; (4) NL đọc viết; (5) NL giao tiếp; (6) NL xử lí thông tin; (7) NL suy nghĩ và sáng tạo; (8) NL ứng dụng kiến thức. - Đối với Việt Nam, trong Dự thảo chƣơng trình tổng thể giáo dục phổ thông của Bộ giáo dục và Đào tạo năm 2015: Chuẩn đầu ra phẩm chất NL chung của chƣơng trình giáo dục các cấp, đã nêu lên tám phẩm chất NL chung cần đạt, đó là:(1) NL tự học; (2) NL giải quyết vấn đề và NL sáng tạo; (3) NL thẩm mĩ; (4) NL giao tiếp; (5) NL hợp tác; (6) NL sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông; (7) NL thể chất; (8) NL tính toán.
Năng lực toán học Xét trên góc độ tâm lí học, khái niệm năng lực toán học có thể đƣợc hiểu theo hai hƣớng: - Hƣớng thứ nhất: Năng lực toán học là những năng lực sáng tạo trong hoạt động nghiên cứu TH với tƣ cách là khoa học; ngƣời có NL sáng tạo TH cống hiến cho loài ngƣời những công trình TH có ý nghĩa đối với sự phát triển của khoa học TH nói riêng, có ý nghĩa đối với hoạt động thực tiễn của xã hội nói chung. - Hƣớng thứ hai: Năng lực toán học là những NL trong học tập, trong việc nắm vững TH với tƣ cách là môn học; ngƣời HS có NL nắm đƣợc nhanh chóng và có kết quả những kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo, tƣơng ứng. Một số quan điểm khác. - Một trong những công trình nghiên cứu tâm lí năng lực toán học của HS đồ sộ nhất thuộc về nhà tâm lí học Liên Xô V.
Theo Crutexki thì câu trúc của năng lực toán học gồm những thành phần sau: - Về mặt thu nhận thông tin: Năng lực tri giác hình thức hóa tài liệu toán học, năng lực nắm cấu trúc hình thức của bài toán. - Về mặt chế biến thông tin: + Năng lực khái quát hóa tƣ liệu toán học, tách cái chính và bỏ qua những cái không cơ bản, nhìn thấy cái chung trong sự khác nhau bên ngoài. 14 + Năng lực sử dụng hệ thống dấu và số. + Năng lực suy luận logic, đƣợc phân tích nhỏ hợp lí, tuần tự, có liên quan đến nhu cầu phải chứng minh, biện chứng kết luận.
+ Năng lực rút gọn quá trình suy luận, tƣ duy bằng các quá trình thu gọn. + Năng lực tƣ duy thuận nghịch (chuyển từ quá trình thuận sang đảo của tƣ duy). + Tính linh hoạt của tƣ duy, năng lực chuyển từ thao tác trí tuệ này sang thao tác trí tuệ khác, thoát đƣợc sự ràng buộc vào các khuôn mẫu, công thức (đặc điểm này của tƣ duy có tầm quan trọng trong công việc sáng tạo của nhà toán học). + Năng lực của biểu tƣợng không gian.
- Về mặt lƣu trữ các thông tin: Trí nhớ TH (trí nhớ các khái quát hóa, các cấu trúc hình thức, các sơ đồ logic). - Về thành phần tổng hợp chung, đó la khuynh hƣớng toán học của trí tuệ. Tuy nhiên, cần chú ý rằng tốc độ tƣ duy, năng lực toán học, trí nhớ về các công thức,…không nhất thiết phải có mặt trong các thành phần của năng lực toán học. *Các yếu tố ảnh hƣởng đến hình thành và phát triển năng lực toán: + Yếu tố tự nhiên – sinh học: Năng lực toán của học sinh đƣợc di truyền từ cha mẹ, mà chúng ta hay gọi là năng khiếu toán.