CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ VÀ SÁNG TẠO CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC MÔN KHOA HỌC LỚP 5 1. Năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo trong giáo dục 1. Năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo là hai khái niệm quan trọng trong lĩnh vực giáo dục. - Khái niệm năng lực: Có nhiều cách tiếp cận khác nhau để hiểu về khái niệm "năng lực", và dưới đây là một số quan điểm cụ thể: Theo Howard Gardner (1999): "Năng lực được thể hiện qua các hoạt động mang lại kết quả đo đạc và có thể được đánh giá" [31, tr.
Weinert (2001), "Năng lực là sự kết hợp giữa những kỹ năng học được hoặc có sẵn của cá nhân nhằm giải quyết các tình huống cụ thể, cùng với khả năng xã hội và sự sẵn sàng áp dụng các phương pháp giải quyết vấn đề một cách có trách nhiệm và hiệu quả trong các tình huống linh hoạt" [36, tr. Khái niệm năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo: Năng lực giải quyết vấn đề (GQVĐ) và năng lực sáng tạo (NLST) được xem là hai khía cạnh quan trọng của sự phát triển học sinh. Hiện nhiều hệ thống giáo dục tiên tiến trên thế giới đang chú trọng vào việc phát triển cả hai khả năng này. Hiện nay tại Việt Nam, hệ thống giáo dục quá tập trung vào việc rèn luyện kỹ năng và luyện tập theo những kiến thức có sẵn, dẫn đến việc học sinh thiếu đi việc rèn luyện năng lực GQVĐ và NLST từ sớm.
Điều này gây ảnh hưởng đáng kể đến khả năng tự học, khám phá và tư duy của trẻ. Vì vậy, việc đào tạo học sinh trong việc nhận biết và giải quyết các vấn đề trong quá trình học tập và trong cuộc sống cá nhân, gia đình và cộng đồng không 15 chỉ là một phương pháp giảng dạy, mà còn là một mục tiêu quan trọng trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo. Trong lĩnh vực giáo dục, năng lực giải quyết vấn đề và năng lực sáng tạo được hiểu và định nghĩa theo nhiều quan điểm khác nhau. Có sự đa dạng trong cách diễn đạt và hiểu biết về hai khái niệm này: Theo định nghĩa trong đánh giá PISA năm 2012, "Năng lực giải quyết vấn đề (GQVĐ) là khả năng của một cá nhân trong việc hiểu và tìm ra giải pháp cho các tình huống khó khăn, khi không có sẵn một phương án giải quyết rõ ràng.
Nó cũng bao gồm khả năng tham gia tích cực vào quá trình giải quyết vấn đề, thể hiện sự sẵn lòng và trách nhiệm của công dân trong việc xây dựng giải pháp" [33, tr2]. Theo Nguyễn Khánh Toàn, tác giả cuốn sách Xã hội học tập - Học tập suốt đời năm 2012, "Hoạt động trí tuệ được coi là mức độ phức tạp và cao nhất về nhận thức, bởi nó yêu cầu sự huy động đầy đủ các năng lực trí tuệ của cá nhân. Để có năng lực giải quyết vấn đề, người tham gia cần sử dụng trí nhớ, trí giác, lý luận, khái niệm hóa và ngôn ngữ, đồng thời cũng kết hợp cảm xúc, động lực và niềm tin vào khả năng của bản thân cùng khả năng kiểm soát tình huống" [19, tr3]. Theo quan điểm của tác giả Trần Việt Dũng (năm 2013), năng lực sáng tạo được hiểu là khả năng tạo ra những điều mới mang giá trị dựa trên những phẩm chất tồn tại sẵn hoặc sự kết hợp của những phẩm chất đặc biệt của mỗi cá nhân.
Theo nghiên cứu của Chu Cẩm Thơ (2016) cho thấy rằng: Năng lực sáng tạo là khả năng giải quyết vấn đề bằng nhiều cách thức, con đường khác nhau; phân tích, đánh giá vấn đề là một phần gắn liền và tích hợp với năng lực giải quyết vấn đề ở nhiều góc nhìn, phương diện khác nhau. [25, tr13] Bản chất của năng lực giải quyết vấn đề trong giáo dục có thể hiểu một cách đơn giản là khả năng tìm kiếm và tiếp thu tri thức mới thông qua việc sáng tạo và áp dụng các giải pháp trong quá trình học tập, bằng cách tự mình 16 hoặc cùng nhóm tìm ra các hướng dẫn và hoạt động giải quyết vấn đề. Qua đó, năng lực này giúp học sinh không chỉ nắm vững kiến thức khoa học và hệ thống tri thức, mà còn hiểu rõ quá trình và con đường thu thập các kết quả đó. Ngoài ra, năng lực giải quyết vấn đề trong giáo dục cũng góp phần xây dựng tư duy tích cực và khả năng sáng tạo của học sinh.
Dựa trên các quan điểm đã được đề cập, chúng tôi nhận thấy rằng năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo trong giáo dục (GQVĐ-ST) là khả năng sử dụng kiến thức, kỹ năng và các đặc điểm cá nhân để giải quyết các nhiệm vụ học tập, trong đó có yếu tố sáng tạo. Trong quá trình giải quyết vấn đề, sự sáng tạo được thể hiện thông qua việc mở rộng quan điểm về vấn đề, tìm ra những phương pháp giải quyết mới, cải tiến quy trình giải quyết vấn đề hoặc đánh giá và cải tiến thí nghiệm. Sự sáng tạo là sự cải tiến so với cách tiếp cận thông thường. Sự sáng tạo này là sự cải tiến so với trình độ và kiến thức hiện có của học sinh.
Năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo của học sinh được thể hiện, hình thành và phát triển thông qua việc tham gia vào các hoạt động giải quyết vấn đề trong quá trình học tập và trong cuộc sống hàng ngày. Cấu trúc năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo Theo nghiên cứu của Lê Văn Dần (2018) [5,tr4] đã nghiên cứu về cấu trúc năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo và cho rằng năng lực GQVĐ-ST là sự kết hợp của các năng lực sau : - Năng lực nhận thức đóng vai trò quan trọng trong việc giúp người học không chỉ hiểu rõ các khái niệm và qui luật tự nhiên, mà còn nhận thức được các mối quan hệ và kỹ năng liên quan đến môn học. - Năng lực tìm hiểu và khám phá vấn đề đóng vai trò quan trọng trong việc giúp người học nhận biết và hiểu rõ vấn đề. Nó bao gồm việc phát hiện các tình huống có vấn đề, phân tích và làm rõ các tình huống cụ thể, cùng chia sẻ hiểu biết về vấn đề với người khác để cùng nhau hiểu rõ - Năng lực hình thành và triển khai ý tưởng mới là việc cung cấp cho người học các phương pháp nhận thức tổng quát và cụ thể, giúp họ thu thập, 17 phân tích, xử lí, đánh giá và trình bày thông tin một cách khoa học.
Các kỹ năng đề xuất và lựa chọn giải pháp: giúp học sinh phân tích, đánh giá và chọn lựa các phương pháp học tập và giải quyết vấn đề. Đồng thời, họ cũng phát triển khả năng tương tác xã hội, xây dựng mối quan hệ và tích lũy kinh nghiệm trong việc giải quyết vấn đề và sáng tạo theo cách riêng của mình. Năng lực thiết kế và tổ chức hoạt động giúp học sinh phân tích và tổng hợp kiến thức đã học để nhận biết vấn đề và áp dụng chúng vào giải quyết vấn đề và sáng tạo trong quá trình học tập và thực tế cuộc sống. Năng lực tư duy độc lập giúp học sinh tự học, tự khám phá, tự đánh giá và điều chỉnh kế hoạch giải quyết vấn đề và sáng tạo.
Điều này bao gồm việc lựa chọn, sắp xếp và nghiên cứu thông tin dựa trên kiến thức đã học, xác định các phương pháp, quy trình và chiến lược giải quyết vấn đề, và đồng thuận các hành động trong quá trình thực hiện. Như vậy, năng lực GQVĐ-ST không chỉ bao gồm các thành phần đã được đề cập mà còn được bổ sung bởi một số kỹ năng thuộc các năng lực chung và năng lực chuyên biệt khác nhau. Các biểu hiện của năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo Theo Chương trình Giáo dục phổ thông tổng thể của Bộ Giáo dục và Đào tạo (2018) [3], kỹ năng giải quyết vấn đề của học sinh được phân thành sáu thành phần khác nhau. Mỗi năng lực này có những hành vi riêng biệt mà học sinh thể hiện khi làm việc độc lập hoặc theo nhóm về giải quyết vấn đề và sáng tạo (bảng 1.
Dưới đây là một bảng mô tả các biểu hiện của năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo: Năng lực thành STT Biểu hiện phần 1 Nhận ra ý tưởng - Nhận diện và hiểu rõ thông tin, ý tưởng mới và phức mới tạp từ các nguồn thông tin khác nhau; 18 - Nhận ra đâu là ý tưởng mới và khám phá khái niệm, qui luật, mối quan hệ trong môn học. 2 Phát hiện và - Phân tích một tình huống nhất định là một kỹ năng làm rõ vấn đề quan trọng cả trong học tập và cuộc sống hàng ngày - Năng lực nhận biết và giao tiếp các tình huống có vấn đề trong quá trình học tập và cuộc sống. 3 Hình thành và - Suy nghĩ và hình thành nên các ý tưởng mới trong triển khai ý học tập và cuộc sống; không còn suy nghĩ theo lối mòn tưởng mới ngày xưa; tạo ra yếu tố mới dựa trên những ý kiến khác nhau; - Hình thành và phát triển chuỗi các ý tưởng; đánh giá toàn diện về rủi ro, có những giải pháp phù hợp trước sự thay đổi của bối cảnh và chuẩn bị dự phòng. 4 Đề xuất, lựa - Tiến hành quan sát kỹ lưỡng, thu thập và làm rõ các chọn giải pháp thông tin có liên quan đến vấn đề được đặt ra ; - Đề xuất và phân tích được một số giải pháp giải quyết vấn đề từ đó lựa chọn được những giải pháp phù hợp nhất.
5 Thiết kế và tổ - Tạo một kế hoạch hành động với các mục tiêu, nội chức hoạt động dung, định dạng và thủ tục phù hợp. - Tập hợp và điều phối các nguồn lực (bao gồm nhân lực và vật lực) cần thiết cho hoạt động. - Điều chỉnh kế hoạch và triển khai phù hợp các hoạt động, phương pháp, quy trình giải quyết vấn đề trong từng tình huống cụ thể nhằm đạt hiệu quả cao. - Đánh giá hiệu quả của các giải pháp, hoạt động.