đặt vấn đề dẫn đến kiến thức mới; Giải bài tập mà chưa biết thuật giải trực tiếp; Tìm sai lầm trong lời giải; Phát hiện nguyên nhân sai lầm và sửa chữa sai lầm. Trong dạy học, các cơ hội như vậy rất nhiều, do đó PPDH phát hiện và giải quyết vấn đề có khả năng được áp dụng rộng rãi trong dạy học nhằm phát huy tính chủ động, sáng tạo của HS. Dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề có thể áp dụng trong các giai đoạn của quá trình dạy học: hình thành kiến thức mới, củng cố kiến thức và kĩ năng, vận dụng kiến thức. Phương pháp này cần hướng tới mọi đối tượng HS chứ không chỉ áp dụng riêng cho HS khá giỏi.
[7] Về sau, nhiều nhà khoa học nghiên cứu PP này như Lê Khánh Bằng, Vũ Văn Tảo, Nguyễn Bá Kim, Tuy nhiên những nghiên cứu này chủ yếu chỉ nghiên cứu cho phổ thông và đại học. Xã hội càng phát triển thì nhu cầu khám phá về tự nhiên và xã hội ngày càng được nâng cao. Giáo dục hiện nay không chỉ đào tạo ra những con người có tài, có đức, có phẩm chất tốt đẹp mà còn phải là những người có hiểu biết sâu rộng về tự nhiên xã hội để hòa nhập với thế giới xung quanh. Gần đây, nhiều tác giả đã nghiên cứu và vận dụng PP DH & GQVĐ vào nhà trường tiểu học và thực nghiệm ở một số môn như Toán, Tự nhiên và Xã hội, Đạo đức.Tuy nhiên, nhìn chung chưa có tác giả nào nghiên cứu sâu về phát triển năng lực giải quyết vấn đề thực tiễn thông qua dạy học môn Tự nhiên và Xã hội lớp 3.
Nhận xét chung Có thể nói rằng, môn Tự nhiên và Xã hội được xây dựng trên quan điểm 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com dạy học tích hợp, coi con người, tự nhiên và xã hội là một chỉnh thể thống nhất có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, trong đó con người là cầu nối giữa tự nhiên và xã hội. Các nội dung giáo dục giá trị sống và kĩ năng sống, giáo dục sức khỏe, giáo dục môi trường, giáo dục tài chính được tích hợp vào môn Tự nhiên và Xã hội ở mức độ đơn giản, phù hợp với điều kiện của Việt Nam. Việc phát triển năng lực giải quyết vấn đề thực tiễn giúp HS hiểu và nắm chắc nội dung cơ bản của bài học, sau đấy có thể mở rộng, nâng cao những kiến thức xã hội của mình. Không chỉ vậy còn giúp HS biết vận dụng những tri thức xã hội vào thực tiễn cuộc sống, hình thành kỹ năng giao tiếp, tổ chức, khả năng tư duy, tinh thần hợp tác, hòa nhập cộng đồng.
Đối với GV, sự hình thành và phát triển năng lực giải quyết vấn đề thực tiễn giúp GV đánh giá một cách chính xác khả năng tiếp thu của HS và trình độ tư duy của họ, tạo điều kiện cho phân loại HS một cách chính xác. Sự hình thành và phát triển NLGQVĐ TT giúp cho GV có điều kiện trực tiếp uốn nắn những sai lệch, không chuẩn xác, định hướng kiến thức cần thiết cho HS. Ngoài ra giúp GV dễ dàng biết được năng lực nhận xét, đánh giá, khả năng vận dụng lý luận vào thực tiễn xã hội của HS. Từ đây định hướng phương pháp giáo dục tư tưởng học tập cho HS.
Các nghiên cứu về dạy học môn Tự nhiên và Xã hội đã được quan tâm hơn rất nhiều. Học sinh Tiểu học là giai đoạn đầu của hệ thống giáo dục, các em còn hồn nhiên, tò mò, thích khám phá tuy nhiên các em còn hạn chế về các năng lực trong đó có năng lực giải quyết vấn đề thực tiễn, khi đứng trước một vấn đề các em còn lúng túng, không biết cách giải quyết vấn đề dẫn đến những kết quả không tốt trong học tập và cuộc sống. Các đề tài nghiên cứu về năng lực giải quyết vấn đề thực tiễn của các tác giả trước chủ yếu tập trung phát triển năng lực GQCĐTT vào các môn học ở bậc trung học cơ sở trở lên, có rất ít đề tài cho bậc Tiểu học, đặc biệt là môn Tự nhiên và Xã hội cho HS ở địa bàn tỉnh Bắc Giang. Việc phát triển năng lực giải quyết vấn đề thực tiễn cho HS Tiểu học, đặc biệt là học sinh lớp 3 là rất cần thiết bởi khi có được năng lực này giúp cho HS khi đứng 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com trước một vấn đề sẽ nhanh chóng xác định được nó, biết thiết lập không gian vấn đề, đề xuất được giải pháp và hướng đi hợp lý với tinh thần và thái độ tích cực, qua đó góp phần nâng cao hiệu quả dạy học.
HS tích cực, chủ động, tự tin hơn trong mọi tình huống thực tiễn cuộc sống. Do đó, để đáp ứng được nhu cầu đổi mới của giáo dục và của xã hội, tác giả sẽ đi sâu nghiên cứu về phát triển năng lực giải quyết vấn đề thực tiễn cho học sinh thông qua dạy học môn Tự nhiên và Xã hội lớp 3. Năng lực và năng lực giải quyết vấn đề thực tiễn 1. Khái niệm Năng lực là một phạm trù từng được bàn đến trong mọi lĩnh vực của cuộc sống xã hội.
Đã có nhiều định nghĩa khác nhau về năng lực. Theo từ điển tiếng Việt “Năng lực là khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hành động nào đó. Năng lực là phẩm chất tâm lý và sinh lý tạo cho con người khả năng hoàn thành một loại hoạt động nào đó với chất lượng cao” [9]. Đứng về góc độ tâm lý học, năng lực trở thành đối tượng nghiên cứu chuyên sâu từ thế kỷ XIX, trong các công trình thực nghiệm của F.Ganton năng lực có những biểu hiện như tính nhạy bén, chắc chắn, sâu sắc và dễ dàng trong quá trình lĩnh hội một hoạt động mới nào đó.
Người có năng lực là người đạt hiệu suất và chất lượng hoạt động cao trong các hoàn cảnh khách quan và chủ quan như nhau. Năng lực gắn bó chặt chẽ với tính định hướng chung của nhân cách. Từ điển tâm lý học đưa ra khái niệm, năng lực là tập hợp các tính chất hay phẩm chất của tâm lý cá nhân, đóng vai trò là điều kiện bên trong tạo thuận lợi cho việc thực hiện tốt một dạng hoạt động nhất định. Theo Cosmovici thì: “năng lực là tổ hợp đặc điểm của cá nhân, giải thích sự khác biệt giữa người này với người khác ở khả năng đạt được những kiến thức và hành vi nhất định”.Leonchiev cho rằng: “năng lực là đặc điểm cá nhân quy định việc thực hiện thành công một hoạt động nhất định”.
10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Nhà tâm lý học A.Rudich đưa ra quan niệm về năng lực như sau: năng lực đó là tính chất tâm sinh lý của con người chi phối quá trình tiếp thu các kiến thức, kỹ năng và kỹ xảo cũng như hiệu quả thực hiện một hoạt động nhất định. Năng lực của con người không chỉ là kết quả của sự phát triển và giáo dục mà còn là kết quả hoạt động của các đặc điểm bẩm sinh hay còn gọi là năng khiếu. Năng lực đó là năng khiếu đã được phát triển, có năng khiếu chưa có nghĩa là nhất thiết sẽ biến thành năng lực. Muốn vậy phải có môi trường xung quanh tương ứng và phải có sự giáo dục có chủ đích.
Trong các giáo trình tâm lý học các tác giả cũng đã đưa ra khá nhiều quan niệm về năng lực. Trong đó đa số đều quan niệm năng lực là tổ hợp các thuộc tính độc đáo của cá nhân phù hợp với những yêu cầu của một hoạt động nhất định, đảm bảo cho hoạt động có kết quả tốt. Năng lực vừa là tiền đề vừa là kết quả của hoạt động, năng lực vừa là điều kiện cho hoạt động đạt kết quả nhưng đồng thời năng lực cũng phát triển ngay trong chính hoạt động ấy. Theo quan điểm của Tâm lý học Mác xít, năng lực của con người luôn gắn liền với hoạt động của chính họ.
Theo Trần Trọng Thủy và Nguyễn Quang Uẩn: “Năng lực là tổng hợp những thuộc tính độc đáo của cá nhân phù hợp với những yêu cầu đặc trưng của một hoạt động nhất định, nhằm đảm bảo việc hoàn thành có kết quả tốt trong lĩnh vực hoạt động ấy” [12]. Chương trình giáo dục phổ thông - Chương trình tổng thể (2018) đã nêu rõ: “Năng lực là thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép con người huy động tổng hợp các kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí,… thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những kiện cụ thể. Trong đó, năng lực cốt lõi là năng lực cơ bản, thiết yếu mà bất kì ai cũng cần phải có để sống, học tập và làm việc hiệu quả” [3]. Như vậy, khi nói đến năng lực thì không phải là một thuộc tính tâm lý duy 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nhất nào đó (ví dụ như khả năng tri giác, trí nhớ.) mà là sự tổng hợp các thuộc tính tâm lý cá nhân (sự tổng hợp này không phải phép cộng của các thuộc tính mà là sự thống nhất hữu cơ, giữa các thuộc tính tâm lý này diễn ra mối quan hệ tương tác qua lại theo một hệ thống nhất định và trong đó một thuộc tính nổi lên với tư cách chủ đạo và những thuộc tính khác giữ vai trò phụ thuộc) đáp ứng được những yêu cầu hoạt động và đảm bảo hoạt động đó đạt được kết quả mong muốn.
Có rất nhiều khái niệm khác nhau về năng lực, trong đề tài này chúng tôi tìm hiểu, nghiên cứu cách hiểu về năng lực theo chương trình GDPT 2018: Năng lực là thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép con người huy động tổng hợp các kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí,… thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những kiện cụ thể. Năng lực của học sinh là một cấu trúc động, có tính mở, đa thành tố, đa tầng bậc, hàm chứa trong nó không chỉ là kiến thức, kĩ năng mà cả niềm tin, giá trị, trách nhiệm xã hội… thể hiện ở tính sẵn sàng hành động của các em trong môi trường học tập phổ thông và những điều kiện thực tế đang thay đổi của xã hội.