CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. Năng lực và quan điểm dạy học theo định hướng phát triển năng lực 1. Quan điểm dạy học theo định hướng phát triển năng lực Theo Bernd Meier, Nguyễn Văn Cường [3,tr 39-40] chương trình giáo dục định hướng phát triển năng lực nay còn gọi là chương trình dạy học định hướng kết quả đầu ra (outcomes based curriculum - OBC) hay nói rộng hơn là giáo dục định hướng kết quả đầu ra (Outcome-based Education –OBE), còn gọi là giáo dục điều khiển đầu ra được bàn đến nhiều từ những năm 90 của thế kỷ 20 và ngày nay đang nhận được sự quan tâm của nhiều quốc gia. Chương trình dạy học định hướng kết quả đầu ra nhằm đảm bảo chất lượng đầu ra của việc dạy học, thực hiện mục tiêu phát triển toàn diện các phẩm chất nhân cách, chú trọng năng lực vận dụng tri thức trong những tình huống thực tiễn nhằm chuẩn bị cho con người năng lực giải quyết các tình huống của cuộc sống và nghề nghiệp.
Chương trình này nhấn mạnh vai trò của người học với tư cách chủ thể của quá trình nhận thức. Khác với chương trình định hướng nội dung, chương trình dạy học định hướng kết quả đầu ra tập trung vào việc mô tả chất lượng đầu ra, có thể coi là ”sản phẩm cuối cùng” của quá trình dạy hoc. Việc quản lý chất lượng dạy học chuyển từ việcđiều khiển ”đầu vào” sang điều khiển ”đầu ra”, tức là kết quả học tập của HS. Chương trình dạy học định hướng kết quả đầu ra không quy định những nội dung dạy học chi tiết mà quy định những kết quả đầu ra mong muốn của quá trình đào tạo, trên cở sở đó đưa ra những hướng dẫn chung về việc lựa chọn nội dung, phương pháp, tổ chức và đánh giá kết quả dạy học nhằm đảm bảo thực hiện được mục tiêu dạy học tức là đạt được kết quả đầu ra mong muốn Ưu điểm của chương trình dạy học định hướng đầu ra là tạo điều kiện quản lý chất lượng theo kết quả đầu ra đã quy định, nhấn mạnh năng lực vận dụng của HS.
Tuy nhiên nếu vận dụng một cách thiện lệch, không chú ý đầy 5 z đủ đến nội dung dạy học thì có thể dẫn đến các lỗ hổng tri thức cơ bản và tính hệ thống của tri thức. Ngoài ra chất lượng giáo dục không chỉ thể hiện ở kết quả đầu ra mà còn phụ thuộc quá trình thực hiện. Khái niệm và cấu trúc của năng lực 1. Khái niệm năng lực Khái niệm năng lực (competency) có nguồn gốc tiếng Latinh “competentia”.
Ngày nay, khái niệm năng lực được hiểu nhiều nghĩa khác nhau. Năng lực được hiểu như sự thành thạo, khả năng thực hiện của cá nhân đối với một công việc. Năng lực cũng được hiểu là khả năng, công suất của một doanh nghiệp, thẩm quyền pháp lý của một cơ quan. Khái niệm năng lực được dùng ở đây là đối tượng của tâm lý, giáo dục học.
Có nhiều định nghĩa khác nhau về năng lực. Theo từ điển tâm lý học (Vũ Dũng, 2000) “Năng lực là tập hợp các tính chất hay phẩm chất của tâm lý cá nhân, đóng vai trò là điều kiện bên trong, tạo thuận lợi cho việc thực hiện tốt một dạng hoạt động nhất định”. Còn Weinert (2001) định nghĩa “Năng lực là những khả năng và kỹ xảo học được hoặc sẵn có của cá thể nhằm giải quyết các tình huống xác định, cũng như sự sẵn sàng về động cơ, xã hội và khả năng vận dụng các cách giải quyết vấn đề một cách có trách nhiệm và hiệu quả trong những tình huống linh hoạt”. Theo John Erpenbeck "năng lực được tri thức làm cơ sở, được sử dụng như khả năng, được quy định bởi giá trị, được tăng cường qua kinh nghiệm và được hiện thực hoá qua chủ định” Theo Bernd Meier, Nguyễn Văn Cường [3,tr.43-44] thì “Năng lực là khả năng thực hiện có trách nhiệm và hiệu quả các hành động, giải quyết các nhiệm vụ, vấn đề trong những tình huống khác nhau thuộc các lĩnh vực nghề nghiệp, xã hội hay cá nhân trên cơ sở hiểu biết, kỹ năng, kỹ xảo và kinh nghiệm cũng như sự sẵn sàng hành động”[3, tr 42-44] 6 z Trong dự thảo chương trình giáo dục phổ thông tổng thể thì “năng lực là khả năng thực hiện thành công hoạt động trong một bối cảnh nhất định nhờ sự huy động tổng hợp các kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí,.
NL của cá nhân được đánh giá qua phương thức và kết quả hoạt động của cá nhân đó khi giải quyết các vấn đề của cuộc sống”. Như vậy, qua phân tích các khái niệm trên chúng tôi thấy rằng NL vẫn được tiếp cận theo những phương diện khác nhau, do đó còn có nhiều cách hiểu và diễn đạt khác nhau. Tuy nhiên, ta vẫn thấy giữa chúng vẫn có những điểm chung nhất định. Chẳng hạn, NL vẫn được hiểu như sự thành thạo, khả năng làm việc của cá nhân đối với một công việc, một nhiệm vụ.
NL vẫn là một đối tượng của tâm lý học, vẫn là một thuộc tính tâm lý phức hợp, là tổ hợp của nhiều yếu tố như kiến thức, kĩ năng, thái độ.Vì vậy, chúng tôi nhất trí rằng năng lực là khả năng vận dụng các kiến thức, kỹ năng, thái độ, niềm tin, giá trị … vào việc thực hiện các nhiệm vụ trong những hoàn cảnh cụ thể của thực tiễn nhằm đảm bảo nhiệm vụ ấy được hoàn thiện một cách có hiệu quả nhất. Cấu trúc của năng lực Trong chương trình GDPT hiện nay của các nước thuộc khối OECD người ta sử dụng mô hình gồm hai nhóm chính là: Nhóm NL chung, cốt lõi bao gồm NL cá nhân, hành động tự chủ; NL xã hội, tham gia trong xã hội không đồng nhất; NL công cụ, sử dụng công cụ giao tiếp. Nhóm NL chuyên môn (chuyên biệt), liên quan đến từng môn học. Còn theo [22, tr19] thì cấu trúc chung của NL là sự kết hợp của 4 NL thành phần: NL chuyên môn, NL phương pháp, NL xã hội và NL cá thể.
7 z NL chuyên môn: khả năng thực hiện các nhiệm vụ chuyên môn cũng như đánh giá kết quả một cách độc lập, có phương pháp và chính xác về mặt chuyên môn. NL phương pháp: Là khả năng hành động có kế hoạch, định hướng mục đích trong việc giải quyết các nhiêm vụ và vấn đề. Trung tâm của năng lực phương pháp là những phương thức nhận thức, xử lí, đánh giá, truyền thụ và giới thiệu. NL xã hội: Là khả năng đạt được mục đích trong những tình huống xã hội cũng như trong những nhiệm vụ khác nhau với sự phối hợp chặt chẽ với những thành viên khác.
NL cá thể: Khả năng xác định, suy nghĩ và đánh giá được những cơ hội phát triển cũng như những giới hạn của mình, phát triển được năng khiếu cá nhân cũng như xây dựng kế hoạch cho cuộc sống riêng và hiện thực hoá kế hoạch đó; Những quan điểm, chuẩn giá trị đạo đức và động cơ chi phối các hành vi ứng xử. Mô hình cấu trúc năng lực trên đây phù hợp với bốn trụ cột giáo dục theo tiêu chí của UNESCO là học để biết, học để làm, học để chung sống và học để tự khẳng định. Từ cấu trúc trên ta cũng có thể thấy rằng phát triển năng lực người học không chỉ là phát triển năng lực chuyên môn mà còn phải 8 z phát triển cả NL phương pháp, NL xã hội, NL cá thể. Các năng lực này có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, không tách rời nhau.
Các năng lực chung, cốt lõi và chuyên biệt của môn Toán Ở trường PT, học toán về cơ bản là hoạt động giải toán, giải toán liên quan đến việc lựa chọn và áp dụng chính xác các KT, KN cơ bản, khám phá về các con số, mô hình, giải thích các số liệu. Do đó, giải toán đòi hỏi người học phải có tính sáng tạo, hệ thống. Học toán và giải toán giúp cho người học có được sự tự tin, tính kiên nhẫn, bền bỉ, biết làm việc có phương pháp, biết tư duy, suy luận lôgic. Vì vậy, ta có thể nói rằng môn Toán có rất nhiều cơ hội giúp HS hình thành và phát triển các NL chung như : NL tính toán; NL tư duy; NL GQVĐ; NL tự học; NL giao tiếp; NL hợp tác; NL sử dụng CNTT.
Bên cạnh việc giúp HS phát triển được các NL chung, môn Toán còn giúp HS phát triển NL chuyên biệt, đặc thù như: NL tính toán,bao gồm các thành tố cấu trúc như NL sử dụng các phép tính (HS biết tính toán, ước lượng); NL sử dụng ngôn ngữ toán (sử dụng thuật ngữ, kí hiệu, tính chất, sử dụng thống kê toán, sử dụng trí tưởng tượng không gian); NL mô hình hóa; NL sử dụng công cụ đo, vẽ, tính. Trong bài viết “Bàn về những năng lực Toán học của học sinh phổ thông” của TS Chu Cẩm Thơ - Giảng viên khoa Toán-Tin, trường Đai học Sư phạm Hà Nội tác giả nêu rõ “Trên cơ sở tán đồng thuyết đa trí tuệ (do Gardner (1993) đề xướng) và Lí thuyết tương tác văn hóa - xã hội (Social- cultural Theory) của Vưgôtsky, các nghiên cứu của Kơrutecxki chúng tôi nhận thấy có thể có thể coi những năng lực sau đây là những năng lực mà giáo dục Toán học phổ thông cần hướng tới: (1) Năng lực thu nhận thông tin Toán học: Năng lực tri giác hình thức hoá tài liệu toán học, năng lực nắm cấu trúc hình thức của bài toán. (2) Chế biến thông tin toán học: - Năng lực tư duy logic trong lĩnh vực các quan hệ số lượng và không gian, hệ thống kí hiệu số và dấu. Năng lực tư duy bằng các kí hiệu toán học.
9 z - Năng lực khái quát hoá nhanh và rộng các đối tượng, quan hệ toán học và các phép toán. - Năng lực rút gọn qua trình suy luận toán học và hệ thống các phép toán tương ứng. Năng lực tư duy bằng các cấu trúc rút gọn. - Tính linh hoạt của các quá trình tư duy trong hoạt động toán học.
- Khuynh hướng vươn tới tính rõ ràng, đơn giản, tiết kiệm, hợp lí của lời giải. - Năng lực nhanh chóng và dễ dàng sửa lại phương hướng của quá trình tư duy, năng lực chuyển từ tiến trình tư duy thuận sang tiến trình tư duy đảo. (4) Năng lực vận dụng Toán học vào giải quyết vấn đề: - Năng lực vận dụng các tri thức Toán (chủ yếu là tri thức chuẩn) như công cụ trong học tập. - Năng lực giải một số bài toán có tính thực tiễn điển hình.
- Năng lực vận dụng tri thức Toán, phương pháp tư duy Toán vào thực tiễn.