phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com gồm ba chƣơng. Cơ sở lí luận và thực tiễn về phát triển năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo cho học sinh trong dạy học hóa học ở trƣờng THPT. Phát triển năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo cho học sinh thông qua dạy học chƣơng Oxi - Lƣu huỳnh - Hóa học 10. Thực nghiệm sƣ phạm.
CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ VÀ SÁNG TẠO CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC HÓA HỌC Ở TRƢỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1. Lịch sử vấn đề nghiên cứu Tại hầu hết các quốc gia có nền giáo dục tiên tiến trên thế giới, dạy học tích cực là một trong những quan điểm chủ đạo để phát triển chƣơng trình giáo dục. Hiện nay, tại Việt Nam đã có một số công trình khoa học nghiên cứu về NL GQVĐ, NL sáng tạo cho HS trong DHHH nhƣ: - Đỗ Hƣơng Trà, Nguyễn Văn Biên, Trần Khánh Ngọc, Trần Trung Ninh, Trần Thị Thanh Thủy, Nguyễn Công Khanh, Nguyễn Vũ Bích Hiền [23] nghiên cứu việc dạy học tích hợp để phát triển các NL cho HS. - Nông Thị Thúy [24] đã nghiên cứu việc phát triển NL GQVĐ cho HS thông qua dạy học phần dẫn xuất hiđrocacbon ở lớp 11 chƣơng trình nâng cao.
- Dƣơng Thị Hồng Hạnh [17] nghiên cứu việc phát triển NL GQVĐ cho HS thông qua dạy học chƣơng điện li - Hóa học 11 nâng cao. - Bùi Quốc Hùng [18] nghiên cứu việc phát triển NL phát hiện và GQVĐ cho 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com HS THPT thông qua tuyển chọn, xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập (HTBT) chƣơng Cacbon – Silic – Hóa học 11. - Lê Vân Anh [1] thông qua việc lựa chọn, xây dựng và sử dụng BTHH phần kiến thức hóa học cơ sở chung để phát triển NL phát hiện và GQVĐ cho HS trƣờng THPT. - Lê Thị Hồng Vân [30] nghiên cứu việc phát triển NL sáng tạo cho HS giỏi thông qua HTBT hữu cơ có nhóm chức - Hóa học 11 nâng cao ở trƣờng THPT.
- Nguyễn Thị Tùng Điệp [14] nghiên cứu đề xuất một số biện pháp phát triển NL sáng tạo của HS thông qua BTHH vô cơ (phần phi kim lớp 10). - Các tác giả Nguyễn Văn Quang [21] và Trang Quang Vinh [31] đã có bài báo khoa học về kết quả nghiên cứu phát triển NL sáng tạo và NL GQVĐ cho HS thông qua một số dạng BTHH. Nhƣ vậy, đã có một số công trình khoa học nghiên cứu về phát triển NL cho HS nhƣng chƣa có đề tài nghiên cứu về phát triển NL GQVĐ&ST cho HS trong dạy học chƣơng Oxi - Lƣu huỳnh - Hóa học 10. Điều đó chứng tỏ việc lựa chọn đề tài của chúng tôi là cần thiết, có ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong việc đổi mới PPDH để nâng cao chất lƣợng DHHH ở trƣờng THPT.
Định hƣớng đổi mới phƣơng pháp dạy học hóa học ở trƣờng THPT Nghị quyết hội nghị Trung ƣơng 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo nêu rõ: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phƣơng pháp dạy và học theo hƣớng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kỹ năng của ngƣời học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc. Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để ngƣời học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kỹ năng, phát triển NL. Chuyển từ học chủ yếu trên lớp sang tổ chức hình thức học tập đa dạng, chú ý các hoạt động xã hội, ngoại khóa, nghiên cứu khoa học. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy và học” [2].
Để thực hiện tốt mục tiêu về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo theo Nghị quyết số 29-NQ/TW, GV cần có nhận thức đúng 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com về bản chất của đổi mới PPDH theo định hƣớng phát triển NL ngƣời học và một số biện pháp đổi mới PPDH theo hƣớng này. Theo [3], [9], [10], trong chƣơng trình giáo dục giai đoạn hiện nay, việc đổi mới PPDH các môn học nói chung và môn Hoá học nói riêng đã và đang thực hiện bƣớc chuyển từ chƣơng trình giáo dục tiếp cận nội dung sang tiếp cận NL của ngƣời học, từ chỗ quan tâm đến việc HS học đƣợc cái gì, nội dung gì đến chỗ quan tâm HS vận dụng đƣợc cái gì qua việc học. Để đảm bảo thực hiện đƣợc điều này, QTDH phải đƣợc thực hiện chuyển từ PPDH theo lối "truyền thụ một chiều" sang dạy cách học, cách vận dụng kiến thức, rèn luyện kỹ năng, hình thành NL và phẩm chất. Trong đó việc tăng cƣờng học tập trong nhóm, đổi mới quan hệ GV - HS theo hƣớng hợp tác có ý nghĩa quan trọng nhằm phát triển NL xã hội.
Bên cạnh việc học tập những tri thức và kỹ năng riêng lẻ của các môn học chuyên môn cần bổ sung các chủ đề học tập tích hợp liên môn nhằm phát triển NL giải quyết các vấn đề khó, vấn đề phức hợp. Phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động của ngƣời học, hình thành và phát triển NL tự học (sử dụng sách giáo khoa (SGK), nghe, ghi chép, tìm kiếm thông tin.), trên cơ sở đó trau dồi các phẩm chất linh hoạt, độc lập, sáng tạo của tƣ duy. Có thể chọn lựa một cách linh hoạt các phƣơng pháp chung và phƣơng pháp đặc thù của môn học để thực hiện. Tuy nhiên dù sử dụng bất kỳ phƣơng pháp nào cũng phải đảm bảo đƣợc nguyên tắc “HS tự mình hoàn thành nhiệm vụ nhận thức với sự tổ chức, hƣớng dẫn của GV”.
Việc sử dụng PPDH cần gắn chặt với các hình thức tổ chức dạy học. Tuỳ theo mục tiêu, nội dung, đối tƣợng và điều kiện cụ thể mà có các hình thức tổ chức thích hợp nhƣ học cá nhân, học nhóm, học trong lớp, học ở ngoài lớp…. Cần chuẩn bị tốt về phƣơng pháp đối với các giờ thực hành để đảm bảo yêu cầu rèn luyện kỹ năng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn, nâng cao hứng thú cho ngƣời học. Cần tăng cƣờng sử dụng các thiết bị dạy học môn học tối thiểu đã qui định.
Có thể sử dụng các đồ dùng dạy học tự làm nếu xét thấy cần thiết với nội dung học và 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com phù hợp với đối tƣợng HS. Việc đổi mới PPDH theo định hƣớng phát triển NL thể hiện cần phải thực hiện qua các đặc trƣng nhƣ sau [10]: Một, dạy học thông qua tổ chức liên tiếp các hoạt động học tập, giúp HS tự khám phá những điều chƣa biết chứ không thụ động tiếp thu những tri thức đƣợc sắp đặt sẵn. GV là ngƣời tổ chức và chỉ đạo HS tiến hành các hoạt động học tập phát hiện kiến thức mới, vận dụng sáng tạo kiến thức đã biết vào các tình huống học tập hoặc tình huống thực tiễn… Hai, chú trọng rèn luyện cho HS biết khai thác SGK và các tài liệu học tập, biết cách tự tìm lại những kiến thức đã có, suy luận để tìm tòi và phát hiện kiến thức mới. Định hƣớng cho HS cách tƣ duy nhƣ phân tích, tổng hợp, đặc biệt khái quát hoá, … để dần hình thành và phát triển tiềm năng sáng tạo.
Ba, tăng cƣờng phối hợp học tập cá thể với học tập hợp tác, lớp học trở thành môi trƣờng giao tiếp GV - HS và HS - HS nhằm vận dụng sự hiểu biết và kinh nghiệm của từng cá nhân, của tập thể trong giải quyết các nhiệm vụ học tập chung. Bốn, chú trọng đánh giá kết quả học tập theo mục tiêu bài học trong suốt tiến trình dạy học thông qua hệ thống câu hỏi, bài tập (đánh giá lớp học). Chú trọng phát triển kỹ năng tự đánh giá và đánh giá lẫn nhau của HS với nhiều hình thức nhƣ theo lời giải/đáp án mẫu, theo hƣớng dẫn, hoặc tự xác định tiêu chí để có thể phê phán, tìm đƣợc nguyên nhân và nêu cách sửa chữa các sai sót. Trong dạy học hiện nay, việc định hƣớng đổi mới PPDH cần chú trọng vào một số nội dung sau [10]: * Tăng cƣờng đổi mới các PPDH: Cải tiến các PPDH truyền thống; Kết hợp đa dạng các PPDH; Vận dụng dạy học GQVĐ; Vận dụng dạy học tình huống; Vận dụng dạy học định hƣớng hành động (DHDA); Tăng cƣờng sử dụng các phƣơng tiện dạy học và công nghệ thông tin hợp lí hỗ trợ cho quá trình dạy và học; Sử dụng các kĩ thuật dạy học phát huy tính tích cực và sáng tạo; Sử dụng các PPDH đặc thù của bộ môn cần đƣợc chú trọng; Bồi dƣỡng phƣơng pháp học tập tích cực cho HS.
8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com * Tăng cƣờng một số PPDH đặc trƣng bộ môn hóa học: Sử dụng thí nghiệm và các phƣơng tiện trực quan khác trong DHHH; Tăng cƣờng xây dựng và sử dụng BTHH theo định hƣớng phát triển NL cho HS. Theo định hƣớng trên đề tài đã chú trọng vào việc sử dụng các PPDH tích cực nhƣ: Dạy học GQVĐ, DHDA, các KTDH, sử dụng BTHH GQVĐ, BT gắn với bối cảnh thực tiễn nhằm phát triển NL GQVĐ&ST cho HS thông qua dạy học. Năng lực và phát triển năng lực cho học sinh Trung học phổ thông 1. Khái niệm năng lực NL là một khái niệm đƣợc đề cập đến trong nhiều tài liệu nghiên cứu về giáo dục trong và ngoài nƣớc theo những cách tiếp cận khác nhau.
Theo Bernd Meier và Nguyễn Văn Cƣờng [3]: “NL là khả năng thực hiện có trách nhiệm và hiệu quả các hành động, giải quyết các nhiệm vụ, vấn đề trong các tình huống thay đổi thuộc các lĩnh vực nghề nghiệp, xã hội hay cá nhân trên cơ sở hiểu biết, kĩ năng, kĩ xảo và kinh nghiệm cũng nhƣ sẵn sàng hành động”. Theo [29]: “NL là tổ hợp các thuộc tính độc đáo của cá nhân, phù hợp với những yêu cầu của một hoạt động nhất định, đảm bảo cho hoạt động đó có kết quả”. Theo cách tiếp cận tích hợp, F. Weinert (2001) cho rằng “NL của HS là sự kết hợp hợp lí kiến thức, kĩ năng và sự sẵn sàng tham gia để cá nhân hành động có trách nhiệm và biết phê phán tích cực hướng tới giải pháp cho các vấn đề”.
Khái niệm NL đƣợc dùng trong chƣơng trình giáo dục của Québec: “NL là một khả năng hành động hiệu quả bằng sự cố gắng dựa trên nhiều nguồn lực.