CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA VIỆC PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC ĐỌC HIỂU CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC THƠ TRUNG ĐẠI Ở NHÀ TRƯỜNG PHỔ THÔNG 1. Khái niệm về năng lực Có nhiều cách định nghĩa khác nhau về năng lực. Hiểu một cách cụ thể nhất, theo từ điển Tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên thì năng lực có thể được hiểu theo hai nét nghĩa 1/ “Chỉ một khả năng, điều kiện tự nhiên có sẵn để thực hiện một hoạt động nào đó .2/Là một phẩm chất tâm sinh lí tạo cho con người có khả năng để hoàn thành một hoạt động nào đó có chất lương cao”[17, tr. Trong tài liệu tập huấn dạy học và kiểm tra, dánh giá theo định hướng phát triển năng lực của học sinh do Bộ giáo dục và Đào tạo phát hành năm 2014 ghi rõ “Năng lực được quan niệm là sự kết hợp một cách linh hoạt và có tổ chức kiến thức kĩ năng với thái độ, tình cảm, giá trị, động cơ cá nhân,.nhằm đáp ứng hiệu quả một yêu cầu phức hợp của hoạt động trong bối cảnh nhất định” [1].
Năng lực thể hiện sự vận dụng tổng hợp nhiều yếu tố (phẩm chất của người lao động, kiến thức và kĩ năng) được thể hiện thông qua các hoạt động của cá nhân nằm thực hiện một loại công việc nào đó. Năng lực bao gồm các yếu tố cơ bản mà mọi người lao động, mọi công dân cần phải có, đó là các năng lực chung cốt lõi. Định nghĩa năng lực dựa trên kết quả đạt được khi kết hợp nhiều yếu tố cả khách quan và chủ quan trong giáo dục, quan tâm đến năng lực hành động “Năng lực là khả năng thực hiên có hiệu quả và có trách nhiệm các hành động, giải quyết các nhiệm vụ, vấn đề thuộc các lĩnh vực nghề nghiệp, xã hội hay cá nhân trong những tình huống khác nhau trên cơ sở hiểu biết, kĩ năng, kĩ xảo và kinh nghiệm cũng như sự sẵn sàng hành động” (Bend Meier, trường 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Cấu trúc của năng lực Năng lực chuyên môn (Professional competency) Là khả năng thực hiện các nhiệm vụ chuyên môn cũng như khả năng đánh giá kết quả chuyên môn một cách độc lâp có phương pháp và chính xác về mặt chuyên môn.
Nó được tiếp nhận qua việc hoc nội dung - chuyên môn và chủ yếu gắn với khả năng nhận thức và tâm lý vận động. Năng lực phương pháp (Methodical competency) Là khả năng đối với những hành động có kế hoạch, định hướng mục đích trong việc giải quyết các nhiệm vụ và vấn đề. Năng lực phương pháp bao gồm năng lực phương pháp chung và phương pháp chuyên môn. Trung tâm của phương pháp nhận thức là những khả năng tiếp nhận, xứ lí, đánh giá, truyền thụ và trình bày tri thức.
Nó được trình bày qua việc học phương pháp luận- giải quyết vấn đề. Năng lực xã hội (Social competency) Là khả năng đạt được mục đích trong những tình huống giao tiếp ứng xử xã hội cũng như trong những nhiệm vụ khác nhau trong sự phối hợp chặt chẽ với những thành viên khác. Nó được tiếp nhận qua việc học giao tiếp. Năng lực cá thể (Induvidua competency) Là khả năng xác định, đánh giá được những cơ hội phát triển cũng như những giới hạn của cá nhân, phát triển năng khiếu, xây dựng và thực hiện kế hoạch phát triển cá nhân, những quan điểm, chuẩn giá trị đạo đức và động cơ chi phối các thái độ và hành vi ứng xử.
Nó được tiếp nhận qua các việc học cảm xúc đạo đức và liên quan đến tư duy và hành động tự chịu trách nhiệm. Cấu trúc của khái niệm năng lực cho thấy giáo dục định hướng phát triển năng lực không chỉ nhằm mục tiêu phát triển năng lực chuyên môn bao gồm tri thức, kỹ năng chuyên môn mà còn phát triển năng lực phương pháp, năng lực xã hội và năng lực cá thể. Những năng lực này không tách rời nhau mà còn có mối quan hệ chặt chẽ. Năng lực hành động được hình thành trên cơ 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com sở có sự kết hợp các năng lực này.
Năng lực chuyên biệt trong môn Ngữ văn Năng lực chuyên biệt trong môn Ngữ văn theo như bản Dự thảo Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể đưa ra “Lĩnh vực giáo dục ngôn ngữ và văn học giúp học sinh hình thành và phát triển năng lực giao tiếp, năng lực tư duy sáng tạo, năng lực thẩm mỹ, năng lực cảm thụ văn học và những phẩm chất tốt đẹp, những quan niệm sống và phép ứng xử nhân văn, giúp học sinh nhận biết được ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng và phương tiện tư duy của con người là công cụ để học tốt tất cả các môn học, văn học là loại hình nghệ thuật ngôn từ phản ánh đời sống, xã hội và con người, từ đó có ý thức trau dồi ngôn ngữ, nuôi dưỡng hứng thú đọc sách và khám phá tác phẩm văn học”. Bản dự thảo chương trình giáo dục phổ thông tổng thể quốc gia cũng viết “Năng lực chung là năng lực cơ bản, thiết yếu mà bất kỳ một người nào cũng cần có để sống, học tập và làm việc, các hoạt động giáo dục (bao gồm các môn học và hoạt động trải nghiệm sáng tạo), với khả năng khác nhau, nhưng đều hướng tới mục tiêu hình thành và phát triển các năng lực chung của học sinh”. Năng lực đặc thù môn học (của môn học nào) là năng lực mà môn học (đó) có ưu thế hình thành và phát triển (do đặc điểm của môn học đó). Một năng lực có thể là năng lực đặc thù của nhiều môn học khác”[3, tr 34].
Như vậy, dựa trên những quan điểm đưa ra của bản dự thảo, chúng ta có căn cứ để xây dựng năng lực chuyên biệt cho môn Ngữ văn. Năng lực giao tiếp Ngôn ngữ là phương tiện trong giao tiếp, việc trau dồi vốn từ vựng và rèn luyện kĩ năng sử dụng ngôn ngữ cho học sinh là vô cùng cần thiết khi dạy học Ngữ văn. Nó được thiết kế, xây dựng nhằm giúp học sinh có thể huy động vốn từ, sắp xếp chúng thành những ý, những lời trong giao tiếp. Dạy học để học sinh có thể hiểu, biết và sử dụng vốn từ vựng tiếng Việt vô cùng phong 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com phú, tinh tế và giàu có.
Ngoài ra việc xây dựng bối cảnh, môi trường giao tiếp cụ thể trong giờ học cũng tạo cơ hội cho học sinh tập duyệt những kĩ năng giao tiếp cơ bản. Đặc biệt hướng đến kĩ năng học sinh lĩnh hội và tiếp nhận những văn bản khác nhau, hiểu được nội dung, đối tượng, mục đích của văn bản mà mình tiếp cận “nghe hiểu và chắt lọc được thông tin quan trọng, bổ ích từ các bài đối thoại, chuyện kể, lời giải thích, cuộc thảo luận, tranh luận phức tạp; có thái dộ tích cực trong khi nghe”[3, tr. 35], đồng thời có thể tạo lập văn bản bày tỏ suy nghĩ, cảm xúc cá nhân. Sau khi tốt nghiệp học sinh có thể“Sử dụng linh hoạt và hiệu quả các kiểu câu khác nhau, nói rõ ràng, mạch lạc, chính xác, tự tin và đúng ngữ điệu, thuyết trình được nội dung đúng chủ đề thuộc chương trình học tập, biết trình bày và bảo vệ quan điểm của cá nhân.
Điều này tương ứng phù hợp với hai kỹ năng và năng lực mà Ngữ văn hướng đến là năng lực đọc hiểu và năng lực tập làm văn. Đây là một năng lực được thực hành ngay từ khi ngồi trên ghế nhà trường, giúp các em tự tin, năng động hơn khi ra ngoài cuộc sống, hình thành năng lực giao tiếp, biết lắng nghe và có những phản hồi tích cực khi lựa chọn nội dung, ngôn ngữ phù hợp bối cảnh và đối tượng giao tiếp. Năng lực tư duy sáng tạo Mỗi một tác phẩm văn học là một ý tưởng sáng tạo của mỗi cá nhân không lặp lại, Với văn bản bất kỳ mà ta tiếp cận đều hướng đến một nội dung khác nhau. Khi tổ chức cho học sinh đọc hiểu, cảm thụ, đó chính là con đường đồng sáng tạo.
Qua đó học sinh có cơ hội bày tỏ suy tư về những vấn đề bên ngoài tác phẩm, hình thành sự liên tưởng, tưởng tượng. Có những tác phẩm văn học gieo vào lòng người những ý tưởng thú vị về cuộc sống, về nghị lực, khát vọng vươn lên.Thúc đẩy các em đến với những giấc mơ sáng tạo trong mọi lĩnh vực. Trong giờ học, những ý tưởng sáng tạo của học sinh với những cách cảm, cách nghĩ riêng, tránh xa những sáo rỗng, lối mòn trong cách cảm thụ, cách viết…“ Viết đúng và sáng tạo các loại văn bản phức tạp về các chủ đề học tập 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com và đời sống, biết tóm tắt nội dung của những văn bản phức tạp; trình bày một cách thuyết phục quan điểm của cá nhân” [3]. Năng lực thẩm mỹ Việc phát triển năng lực thẩm mỹ cho học sinh là rất quan trọng bới vì “Phát triển tư duy học sinh nhằm phát hiện ra nhu cầu cảm thụ thẩm mỹ giúp học sinh hình thành tư duy hình tượng cụ thể, từ đó phát triển trí tưởng tượng của học sinh, đó là yếu tố cơ bản của nghệ thuật”.
Trích chức năng giáo dục thẩm mỹ của nghệ thuật, Ths. Lê Thị Thanh Huyền khoa Tâm lí Trường đại học Hải Phòng. Lí luận văn học đã chỉ ra “chất liệu của nghệ thuật chính là cuộc sống” trong khi đó văn học phản ánh thực tế đời sống của con người, cho nên tiếp cận văn học là con đường giáo dục thẩm mỹ cho học sinh về những cảm xúc, yêu ghét, những cái thiện - ác, những mảng đen trắng cuộc đời. Mỹ học là một chủ đề mà văn học bàn luận đến khá sâu sắc, văn học đề cập đến nhiều khía cạnh, góc khuất của cuộc sống, tuy nhiên cốt lõi nhất nó vẫn hướng tới những cái cao cả, tinh tế, những vấn đề nhạy cảm, bất kì tác phẩm nào cũng hướng tới cái đẹp dù có thể là cái đẹp về thiên nhiên hay vẻ đẹp tâm hồn con người.
Giáo dục cái đẹp cũng là con đường nhận ra các giá trị đạo đức của con người như ca dao tực ngữ Việt Nam đã viết “Thương người như thể thương thân”, hay “Giữa đường gặp cánh hoa rơi, đưa tay đỡ lấy cũ người mới ta” tiếp thu những tư tưởng giáo dục con người về tinh thần nhân đạo sẽ góp phần xây dựng cuộc sống văn minh, lành mạnh hơn, hướng đến cuộc sống thân thiện của xã hội hiện đại trong tương lai.