Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC DẠY HỌC TÍCH HỢP CÁC MÔN XÃ HỘI CHO GIÁO VIÊN TRUNG HỌC CƠ SỞ 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Ở nước ngoài Lý thuyết tích hợp là một triết lý được Ken Wilber đề xuất. Nó được hình dung như là một lý thuyết về mọi sự vật và cung cấp một đường hướng kết hợp nhiều mô thức rời rạc hiện tại thành một mạng hoạt động phức hợp, tương tác nội tại của nhiều cách tiếp cận.
Lý thuyết tích hợp đã được nhiều nhà thực hành lý thuyết áp dụng trong hơn 35 lĩnh vực chuyên môn và học thuật khác nhau (Esbjörn-Hargens, 2010). Lý thuyết tích hợp được ứng dụng vào giáo dục trở thành một quan điểm (một trào lưu tư tưởng) lý luận dạy học phổ biến trên thế giới hiện nay. Xu hướng tích hợp còn được gọi là xu hướng liên hội đang được thực hiện trên nhiều bình diện, cấp độ trong quá trình phát triển các chương trình giáo dục. Về cá nhân các nhà khoa học nghiên cứu chuyên sâu về vấn đề DHTH có thể kể đến nhà lý luận giáo dục Pháp Xavier Roegiers.
Ông có hai công trình có chất lượng khoa học cao, trong đó có một cuốn đã được dịch sang tiếng Việt. Trước 1996 có: "Khoa sư phạm tích hợp hay làm thế nào để phát triển các năng lực tích hợp ở nhà trường?". Bốn năm sau đó, ông công bố công trình: "Một phương pháp sư phạm của hội nhập. Và tích hợp các kĩ năng có được trong giảng dạy".
Theo Xavier Roegiers, sư phạm tích hợp là một quan niệm về quá trình học tập, trong đó toàn bộ quá trình học tập góp phần hình thành ở HS những năng lực cụ thể có dự tính trước những điều kiện cần thiết cho HS, nhằm phục vụ cho các quá trình học tập sau này hoặc nhằm hòa nhập HS vào cuộc sống lao động. Như vậy sư phạm tích hợp tìm cách làm cho quá trình học tập có ý nghĩa thực tiễn. Ngoài ra, Donald P. Eggen trong mục: "Tích hợp các đơn vị chương trình học liên ngành và chuyên đề" thuộc công trình: "Học tập và phương pháp giảng dạy nghiên cứu", cũng đã đặt ra và bước đầu giải quyết vấn đề dạy và học theo quan điểm sư phạm tích hợp [6].
Trên quan điểm chung về DHTH, các nhà khoa học trên thế giới đã phân chia tích hợp thành bốn loại: - Quan điểm tích hợp trong nội bộ môn học: Theo phương án này, các môn, các phần vẫn được học riêng rẽ, nhưng loại bỏ những nội dung trùng lắp, khai thác sự hỗ trợ giữa các phân môn, giữa các phần trong một phân môn/môn học. 7 - Quan điểm đa môn: Các môn học tiếp tục được tiếp cận một cách riêng rẽ và chỉ giao thoa ở một số thời điểm trong quá trình giảng dạy và nghiên cứu. Tích hợp đa môn được thực hiện theo cách tổ chức các Chuẩn từ các môn học xoay quanh một chủ đề, đề tài, dự án, tạo điều kiện cho người học vận dụng tổng hợp những kiến thức của các môn học có liên quan. Từ cách tiếp cận đa môn này, GV không cần thay đổi nhiều nội dung môn học, nội dung và đánh giá vẫn theo bộ môn, HS có thể tạo ra những kết nối giữa các bộ môn để giải quyết vấn đề.
Điều này được thực hiện dưới ba hình thức: bài mục riêng dựa theo chủ đề, lồng ghép và liên hệ. - Quan điểm liên môn: Đề xuất những tình huống chỉ có thể tiếp cận một cách hợp lý qua sự soi sáng của nhiều môn học. Quan điểm này nhấn mạnh đến sự liên kết của nhiều môn làm cho chúng tích hợp với nhau để giải quyết một tình huống cho trước. Vì thế, quá trình học tập sẽ không rời rạc mà phải liên kết với nhau xung quanh những vấn đề phải giải quyết.
- Quan điểm xuyên môn: Chủ yếu phát triển những kĩ năng mà HS có thể sử dụng trong tất cả các môn học, trong tất cả các tình huống. Có thể lĩnh hội các kĩ năng này trong từng môn học và có thể áp dụng ở mọi nơi. Những kĩ năng này gọi là kĩ năng xuyên môn. Từ những thập niên 90 của thế kỷ XX, nhiều quốc gia đã tiến hành cải cách giáo dục, tập trung vào GDPT mà trọng điểm là hướng tới việc thực hiện yêu cầu nâng cao chất lượng giáo dục, khắc phục tình trạng học tập nặng nề, căng thẳng, ảnh hưởng đến sức khoẻ, hứng thú và niềm tin đối với việc học tập của HS.
Tình trạng giáo dục thoát li đời sống, quá nhấn mạnh đến tính hệ thống, yêu cầu quá cao về mặt lí thuyết mà coi nhẹ những tri thức và kỹ năng có liên quan trực tiếp đến cuộc sống hàng ngày của HS khiến NL hoạt động thực tiễn của người học bị hạn chế, không đáp ứng được yêu cầu biến đổi nhanh và đa dạng của sự phát triển xã hội [1]. Từ tinh thần trên, việc đổi mới GDPT ở các nước hướng đến các mục tiêu cụ thể sau: - Nhấn mạnh việc gìn giữ bản sắc văn hoá dân tộc, kế thừa truyền thống tốt đẹp của mỗi quốc gia trong bối cảnh toàn cầu hóa. - Giúp trẻ em phát triển tri thức cơ bản, hình thành và phát triển khả năng tư duy phê phán và kỹ năng phát hiện và giải quyết vấn đề. Các yêu cầu được ưu tiên phát triển là: các kỹ năng cơ bản, thói quen và NL tự học, thói quen và NL vận dụng kiến thức đã học vào cuộc sống hàng ngày.
Nhìn chung, GDPT của các nước trong khu vực và trên thế giới đã coi trọng thực hành và vận dụng tri thức. Nội dung giáo dục thường được tinh giản, tập trung vào các kiến thức, kỹ năng cơ bản và thiết thực, tích hợp được nhiều mặt giáo dục. Hình thức tổ chức dạy học rất đa dạng, phong phú. 8 Một nghiên cứu khảo sát về chương trình khoảng 20 nước của Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam cho thấy 100% các nước đều xây dựng chương trình theo hướng tích hợp.
Các nghiên cứu mới nhất cho thấy chương trình các nước đã thực hiện tích hợp: Hàn Quốc, Singapor, Malaysia, Pháp, Úc, Anh, Hoa Kỳ, Canada, Philippin,… Xu hướng chung của các nước đều vận dụng quan điểm tích hợp vào xây dựng chương trình. Trong đổi mới GDPT, công tác đào tạo GV DHTH không kém phần quan trọng. Công tác này đòi hỏi các trường đào tạo nghề (nghề Sư phạm) cũng phải thay đổi cho phù hợp với xu hướng đổi mới giáo dục ở trường phổ thông. Ở các nước phát triển, công tác đào tạo GV DHTH được triển khai sớm cùng với hoặc thậm chí triển khai trước cả đổi mới giáo dục ở các trường phổ thông.
Ngày nay, việc đào tạo GV cần phải phù hợp với sự phát triển của xã hội. Người GV vừa có năng lực chuyên sâu về chuyên môn, vừa có bản lĩnh nghề nghiệp vững vàng, biết tự học - tự đào tạo khi còn là SV cũng như khi đã hành nghề [37]. Các nhà giáo dục Mỹ và một số nước khác cho rằng, đào tạo GV trong thế kỉ XXI cần có những thay đổi như sau [30]: - Thay cho việc yêu cầu HS “Học những kiến thức này và làm như thế này” bằng “Hãy sáng tạo kiến thức và cách làm”. - GV dạy cho HS biết cách tìm đúng địa chỉ, cách thức tìm kiếm thông tin thay cho việc dạy các em học cái gì.
- Giúp HS sử dụng công nghệ thông tin để thể hiện năng lực và phẩm chất của mình, thông qua việc dạy học các môn “Science” hoặc các môn khoa học phân hóa chuyên sâu. - Thay việc dạy trong lớp bằng việc dạy trong thế giới thực mà HS đang sống. - GV thay đổi cách đánh giá việc học tập cho HS: sử dụng kết hợp đánh giá cho học tập và vì học tập. Đánh giá cho học tập (Assessment for learning) - là đánh giá giúp người học hiểu rõ việc học của bản thân và khuyến khích họ học tập tốt hơn).
Đánh giá vì học tập (assessment of learning) để xác định kết quả cuối cùng mà người học đạt được) (ETS, 2007). - GV có năng lực cao và có hiểu biết các xu thế quốc tế hóa và toàn cầu hóa để áp dụng vào quá trình giáo dục. GV toàn cầu hóa cần có các năng lực sau: hiểu và sử dụng các phong cách học tập khác nhau của HS, có các PPDH hiệu quả, hiểu biết các nền văn hóa các nước trên thế giới; có cái nhìn mới và giá trị mới đối với giáo dục. Ở Việt Nam Tích hợp là tư tưởng, là nguyên tắc, là quan điểm hiện đại trong giáo dục.
Quan điểm tích hợp đã được hầu hết các nước trên thế giới vận dụng và hiệu quả của nó đã 9 được kiểm nghiệm. Tuy nhiên, ở nước ta, trước những năm 80 của thế kỉ XX, vấn đề này chưa thực sự được nghiên cứu một cách hệ thống. Tinh thần liên môn cũng được đề cập song trên thực tế chưa được thể hiện trong nội dung chương trình. Các quan điểm nghiên cứu về sư phạm tích hợp mới chỉ dừng lại ở mức sắp xếp các phân môn "đứng cạnh nhau" mà chưa vận dụng vào trong dạy học do chưa thấy rõ sự liên kết chặt chẽ, giao nhau, tích hợp với nhau của các đơn vị kiến thức.
Cuối những năm 80, đặc biệt là những năm 90 của thế kỉ XX trở lại đây, vấn đề nghiên cứu về một khoa học thống nhất trên quan điểm phân tích hệ thống và theo quan điểm tiếp cận tích hợp trong giáo dục nhằm hình thành và phát triển các năng lực cho người học mới thực sự được quan tâm. Từ những năm 1990, trường Cao đẳng sư phạm Uông Bí, Quảng Ninh (nay là Đại học Hạ Long) đã đào tạo GV dạy 2 môn: Toán - Lí, Địa - Sử,Văn - Sử, Văn - GDCD, Hóa - Sinh. Trước năm 2000, một số trường Cao đẳng Sư phạm (CĐSP) cũng đào tạo 2 môn, các trường ĐHSP đào tạo đơn môn, riêng trường ĐHSP Hà nội 2 có đào tạo GV 2 môn. Theo cấu trúc và khối lượng kiến thức tối thiểu cho các cấp đào tạo, chương trình đào tạo 2 môn đồng thời kiến thức của cả hai môn với nội dung kiến thức cốt lõi của môn chính (phần cứng bắt buộc) đủ để SV sau khi tốt nghiệp có thể dạy cả 2 môn ở trường phổ thông.
Tuy nhiên, chương trình đào tạo 2 môn chỉ thuận lợi đối với những SV có lực học khá trở lên và gặp phải một số bất cập khi giảng dạy ở các trường THCS chỉ dạy đơn môn. Từ những năm của thập niên 90 cho đến nay, việc dạy học của chúng ta vẫn mang tính “hàn lâm, lí thuyết”.