Luận án tiến sĩ phát triển năng lực đánh giá sự kiện cho học sinh trong dạy học lịch sử ở trường trung học phổ thông vận dụng qua chương trình lịch sử việt nam từ năm 1858 đến năm 1918

Luận án tiến sĩ nghiên cứu phát triển năng lực đánh giá sự kiện cho học sinh qua dạy học lịch sử Việt Nam giai đoạn 1858-1918 tại trường THPT.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2022

284
3
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

2. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC ĐÁNH GIÁ SỰ KIỆN CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

3. CHƯƠNG 3: CÁC BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC ĐÁNH GIÁ SỰ KIỆN CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

3.1. THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM TỪNG PHẦN

3.2. THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM TOÀN PHẦN

4. KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Phát triển năng lực đánh giá sự kiện trong dạy học lịch sử

Phát triển năng lực đánh giá sự kiện là một yếu tố quan trọng trong dạy học lịch sử ở bậc THPT. Nghiên cứu này tập trung vào việc nâng cao khả năng của học sinh trong việc phân tích và đánh giá các sự kiện lịch sử, đặc biệt trong giai đoạn lịch sử Việt Nam 1858-1918. Việc này không chỉ giúp học sinh hiểu sâu hơn về lịch sử mà còn phát triển các kỹ năng đánh giáphân tích sự kiện.

1.1. Cơ sở lý luận

Nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận về giáo dục lịch sửphương pháp dạy học hiện đại. Phát triển năng lực được xem là mục tiêu chính của giáo dục, trong đó năng lực đánh giá sự kiện là một phần không thể thiếu. Các phương pháp dạy học tích cực như dạy học dự ánhọc tập trải nghiệm được áp dụng để thúc đẩy sự phát triển này.

1.2. Thực tiễn dạy học

Thực tiễn dạy học lịch sử hiện nay cho thấy nhiều hạn chế trong việc phát triển năng lực đánh giá sự kiện cho học sinh. Giáo viên thường tập trung vào việc truyền đạt kiến thức mà chưa chú trọng đến việc hướng dẫn học sinh đánh giá sự kiện. Điều này dẫn đến việc học sinh thiếu kỹ năng phân tích và đánh giá các sự kiện lịch sử một cách độc lập.

II. Áp dụng chương trình lịch sử Việt Nam 1858 1918

Nghiên cứu áp dụng chương trình lịch sử Việt Nam 1858-1918 để phát triển năng lực đánh giá sự kiện cho học sinh. Giai đoạn này chứa đựng nhiều sự kiện quan trọng như cuộc kháng chiến chống Phápphong trào yêu nước, là cơ sở để học sinh rèn luyện kỹ năng đánh giá.

2.1. Nội dung chương trình

Chương trình lịch sử Việt Nam 1858-1918 bao gồm các sự kiện như cuộc xâm lược của thực dân Pháp, phong trào Cần Vương, và các cuộc khởi nghĩa yêu nước. Những sự kiện này được sử dụng làm cơ sở để học sinh thực hành đánh giá sự kiện thông qua các bài tập và hoạt động học tập.

2.2. Phương pháp áp dụng

Các phương pháp dạy học như dạy học nêu vấn đề, dạy học dự án, và học tập trải nghiệm được áp dụng để hướng dẫn học sinh đánh giá sự kiện. Giáo viên đóng vai trò hướng dẫn, giúp học sinh khai thác tối đa nguồn sử liệu và rèn luyện kỹ năng phân tích.

III. Kết quả và ứng dụng thực tiễn

Nghiên cứu đã chỉ ra rằng việc phát triển năng lực đánh giá sự kiện cho học sinh trong dạy học lịch sử mang lại nhiều lợi ích thiết thực. Học sinh không chỉ hiểu sâu hơn về lịch sử mà còn phát triển các kỹ năng tư duy phản biệnkỹ năng phân tích sự kiện.

3.1. Kết quả nghiên cứu

Kết quả nghiên cứu cho thấy học sinh được hướng dẫn đánh giá sự kiện có khả năng phân tích và đánh giá các sự kiện lịch sử một cách độc lập và sâu sắc hơn. Các bài kiểm tra và đánh giá cho thấy sự cải thiện rõ rệt trong kỹ năng đánh giá của học sinh.

3.2. Ứng dụng thực tiễn

Nghiên cứu này có thể được áp dụng rộng rãi trong giáo dục lịch sử THPT để nâng cao chất lượng dạy và học. Các biện pháp và phương pháp được đề xuất có thể được điều chỉnh để phù hợp với điều kiện cụ thể của từng trường và địa phương.

01/03/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

đặt vấn đề trong phạm vi LS nhất định, phân tích tình hình cụ thể. Để giải quyết vấn đề khoa học xã hội, điều chắc chắn nhất, cần thiết nhất, quan trọng nhất là không quên mối liên hệ LS cơ bản. Xem xét những vấn đề LS và kinh tế xã hội phức tạp, phải biết nắm điển hình, nắm chủ thể. Phải biết so sánh, phân tích và tổng hợp, xuyên qua hiện tượng mà nhìn thấy bản chất, tìm ra mối liên hệ nhân quả.

Quá trình suy nghĩ logic từ đơn giản đến phức tạp phù hợp với quá trình LS hiện thực. Sự nhất trí giữa PP logic và PP LS” [6;tr.480 – 481] Những tài liệu nghiên cứu về SK LS có thể nói khá nhiều.Radaer có quyển Tìm hiểu cách mạng khoa học kĩ thuật, được Lê Thanh Giang, Lê Quỳnh Anh dịch, Vũ Cao Đàm hiệu đính, Nxb Khoa học và kĩ thuật ấn hành nghiên cứu về SK cách mạng khoa học kĩ thuật trên các khía cạnh: bản chất, đặc trưng, xu hướng,…Cùng năm, E.Polianxki có quyển LS kinh tế các nước ngoài Liên Xô, tập 2 – thời kì tư bản chủ nghĩa, tập 3 – thời kì đế quốc chủ nghĩa (những năm 1870 – 1917), Nxb Khoa học xã hội ấn hành, nghiên cứu về các nước tư bản chủ nghĩa trên các bình diện đặc trưng, thời kì đế quốc chủ nghĩa, các tổ chức độc quyền, sự trành trướng xâm lược,…Năm 1987, Nicolai Vôrôncóp có quyển sách Lêningrat 900 ngày đêm phong tỏa (1941 – 1944), Nxb Thành phố Hồ Chí Minh ấn hành nghiên cứu về SK cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại của nhân dân Lêningrát trước cuộc tấn công của Đức quốc xã. Ở các nước tư bản chủ nghĩa, nhiều công trình của các nhà sử học không chỉ nghiên cứu về SK LS thế giới mà còn nghiên cứu về SK chiến tranh Việt Nam (được nhiều nhà nghiên cứu dịch sang tiếng Việt và xuất bản). Đơn cử ví dụ, quyển LS Hà Nội của tác giả Philippe Papin do Nxb Mỹ thuật ấn hành, quyển Hà Nội giai đoạn (1873 – 1888) của Audré Massan do Nxb Hà Nội ấn hành; quyển Nhìn lại quá khứ - Tấn thảm kịch và những bài học về Việt Nam của Cựu Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Robert S.McNamara được Nxb Chính trị quốc gia ấn hành (nói về những nguyên nhân Mỹ thất bại trong chiến tranh Việt Nam và những bài học Mỹ cần rút ra qua cuộc chiến tranh này); quyển Tại sao Việt Nam? của tình báo Mỹ Archimedes L.

Patti cung cấp một góc nhìn về LSVN thập niên 40 của thế kỉ XX. Tóm lại, các công trình nghiên cứu của các nhà sử học nước ngoài về SK và ĐGSK LS khá nhiều. Hầu hết các công trình đều bắt đầu với bối cảnh LS, mổ xẻ diễn biến SK với những mối quan hệ chằng chéo, phức tạp như bản thân hiện thực LS của SK đó và kèm theo những nhận định và đánh giá về SK LS. Ở Việt Nam SK được đề cập đến trong nhiều lĩnh vực như Toán học, Văn học, Địa lí,…Trong Toán học, SK được đề cập gồm những dấu ấn trong lĩnh vực Toán học hoặc những SKLS Toán học nổi tiếng được sử dụng như một tình huống có vấn đề, dẫn nhập vào lí thuyết Toán học.

Trong lĩnh vực Văn học sử, SK được đề cập đến trong nhiều tác phẩm, văn bản tự sự. Bài viết Khái niệm SK trong văn bản tự sự của Thu Trang dẫn lại nhận định của nhà văn G.Gennette khi đề cập đến tầm quan trọng của SK trong văn bản tự sự: “Tự sự là trình bày một SK hay một chuỗi SK có thực hay hư cấu, bằng phương tiện ngôn ngữ, đặc biệt là ngôn ngữ tự sự. Địa lí học và Chính trị học là những lĩnh vực có liên quan gần gũi với Sử học, SK đề cập đến trong những lĩnh vực này phục vụ cho lí thuyết khoa học chuyên môn. Ví dụ: với Địa lí học, SK đổi mới năm 1986 được sử dụng như sự dẫn nhập vào lí thuyết về các thành phần kinh tế, về kinh kế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa; với Chính trị học, các giai đoạn nguyên thủy, cổ đại, trung đại, cận đại và hiện đại được đào sâu nghiên cứu để phục vụ cho lí thuyết về hình thái kinh tế - xã hội.

Những công trình nghiên cứu về SK và ĐGSK trong nước cũng phong phú, đa dạng. Công trình nghiên cứu về LSVN hoặc LS thế giới dưới dạng thông sử gồm hệ thống nhiều tập. Nổi tiếng nhất và được sử dụng để giảng dạy cho sinh viên chuyên ngành LS và sư phạm LS có thể kể đến Đại cương LSVN (toàn tập hoặc chia làm ba tập) của nhóm tác giả Trương Hữu Quýnh, Đinh Xuân Lâm và Lê Mậu Hãn hoặc hệ thống sách LS thế giới cổ đại, trung đại, cận đại và hiện đại của nhóm tác giả Lương Ninh, Đặng Quang Minh, Nguyễn Gia Phu, Nghiêm Đình Vỳ,… Năm 2017, Viện Sử học biên soạn và ấn hành bộ sách LSVN 15 tập có thể được xem là thành tựu lớn trong việc nghiên cứu và biên soạn quốc sử. Năm 2015, Đinh Xuân Lâm có quyển Phong trào chống chủ nghĩa thực dân ở Việt Nam, do Nxb Giáo dục Việt Nam ấn hành.

Sách gồm tập hợp nhiều bài viết của tác giả được chia làm bốn phần. Phần thứ năm: Mấy vấn đề tư liệu, sử liệu học và nguyên tắc đánh giá nhân vật LS có bài Một số yêu cầu có tính nguyên tắc của vệc đánh giá nhân vật LS đề cập 4 tiêu chí khi đánh giá nhân vật LS bao gồm: “phải có đầy đủ các tư liệu về cuộc đời và hành trang của người đó [44;tr.601]; phải đặt nhân vật đó vào đúng thời đại mà người đó sống và hoạt động, bám sát những điều kiện 9 cụ thể tác động đến nhân vật LS [44;tr.601]; cần đối chiếu với yêu cầu của thời đại nhân vật LS đó sống và hoạt động [44;tr.602]; thái độ khách quan, trung thực, một sự tỉnh táo, khoa học, và cũng không thể thiếu một cái tâm trong sáng, thấu tình đạt lí, và phải luôn luôn nắm vững đâu là mặt chủ yếu [44;tr. Tóm lại, lí luận SK và ĐGSK trong những công trình nghiên cứu LS trong nước vẫn chưa đạt đến trình độ khái quát bởi mục đích nghiên cứu của các công trình này là làm rõ một vấn đề LS chứ không phải nhằm hướng dẫn người đọc cách đánh giá về một SKLS. Không nhiều công trình rút ra điểm khái quát như Đinh Xuân Lâm trong tác phẩm đã dẫn lưu ý người nghiên cứu sau cách đánh giá một SKLS.

Suy cho cùng, các nhà nghiên cứu sau vẫn có thể khái quát lại lí luận về cách ĐGSK LS qua những công trình nghiên cứu LS này. Với việc dạy học bộ môn LS ở trường phổ thông, SK đóng vai trò quan trọng. Các nhà sử học và giáo dục LS nhận định: SK là không khí của việc nghiên cứu và giảng dạy LS. Không khó để tìm thấy các giáo trình, tài liệu tham khảo chuyên ngành LS đề cập trực tiếp hoặc gián tiếp đến SK và ĐGSK trong DHLS.

* Trong các giáo trình và sách chuyên khảo: Trước hết phải kể đến Giáo trình PP DHLS của Trần Văn Trị, Phan Ngọc Liên, Hoàng Trọng Hanh, Nguyễn Cao Lũy, Nguyễn Tiến Cường lần đầu được Nxb Giáo dục ấn hành năm 1961 (Tập 1), năm 1966 (Tập 2), bổ sung, phát triển qua các năm 1976, 1978, 1980,… Trong ấn phẩm năm 1966, các nhà giáo dục đã đề cập những quan điểm có tính chất “cương lĩnh” mà khi đối sánh với những định hướng giáo dục ngày nay, ta thấy vẫn mang “hơi thở” thời cuộc. Ví dụ: trong chương II: Các phương châm giảng dạy LS ở trường phổ thông, các tác giả nêu yêu cầu: 1. Phương châm “giảng dạy tinh và chắc” và 2. Giảng dạy LS gắn liền với cuộc sống.

Lí luận sử học đã chỉ ra việc giảng dạy phải đi từ tìm hiểu SK đến khái quát lí luận. Việc ĐGSK LS cũng phải tuân theo quy luật này. Tuy nhiên, trong phần 1. Phương châm “giảng dạy tinh và chắc”, các tác giả đã chỉ rõ những quy luật cần giúp HS khái quát lí luận trong DHLS.

Ngày nay, gắn liền nội dung giảng dạy, kiểm tra đánh giá với bài học là một yêu cầu bắt buộc các khâu trong quá trình dạy học. Ngay trong phần 2. Giảng dạy LS gắn liền với cuộc sống, các tác giả ngoài việc nêu rõ quan niệm còn đề xuất hai biện pháp để liên hệ việc giảng dạy với đời sống, cụ thể: 10 - Liên hệ, so sánh những sự việc và con người thời nay với những sự việc và con người thời xưa cùng loại hoặc có điểm tương tự để làm sáng tỏ thêm những sự việc và con người đời nay, đồng thời nâng cao thêm tác dụng giáo dục. - Phân tích nội dung, ý nghĩa của SKLS Đến năm 1992, Giáo trình PP DHLS được các tác giả Phan Ngọc Liên, Trần Văn Trị (chủ biên), Trịnh Đình Tùng, Nguyễn Thị Côi, Nguyễn Hữu Chí, Phan Thế Kim, Phạm Hồng Việt tiếp tục bổ sung, phát triển, Nxb Giáo dục ấn hành, tái bản năm 1998, 1999, 2000, 2001.

Từ năm 2002, Giáo trình PP DHLS được các tác giả Phan Ngọc Liên, Trịnh Đình Tùng, Nguyễn Thị Côi biên soạn, Nxb Đại học Sư phạm ấn hành, tái bản qua các năm 2003, 2009, 2010, 2012,… cho đến nay. Trong ấn phẩm mới nhất của quyển Giáo trình PP DHLS, tập 1, 2 năm 2012, Nxb Đại học Sư phạm ấn hành, có sửa chữa, bổ sung, lí luận về SKLS được trình bày khá rõ ràng, cụ thể trong chương V. Hình thành tri thức LS cho HS. Theo đó, con đường hình thành tri thức LS cho HS bắt đầu từ cung cấp SKLS.

Trịnh Đình Tùng trong bài giảng cho lớp nghiên cứu sinh bổ sung thêm tính tương đối, bên cạnh tính quá khứ, tính không lặp lại, tính cụ thể, tính hệ thống, tính thống nhất giữa sử và luận đã được đề cập trong giáo trình. Việc xác định đặc điểm của SKLS đóng vai trò là cơ sở, nền tảng cho quá trình hướng dẫn HS ĐGSK. Năm 2014, Vũ Quang Hiển và Hoàng Thanh Tú có quyển PP dạy học môn LS ở trường THPT hệ thống hóa các nhóm PP DHLS ở trường THPT. Năm 1970, Châu Long và Lê Kim Ngân trong công trình Sử học nhập môn (Sử học PP luận), dùng cho sinh viên năm nhất của Đại học Văn khoa trình bày nhiều nội dung liên quan đến những vấn đề cơ bản của sử học nói chung và SKLS nói riêng như: ích lợi của sử học, vấn đề sưu tầm tài liệu, phê khảo tài liệu LS,… Cũng năm 1970, Viện Sử học có công trình Mấy vấn đề PP luận sử học, Nxb Khoa học Xã hội ấn hành.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Phát Triển Năng Lực Đánh Giá Sự Kiện Cho Học Sinh Trong Dạy Học Lịch Sử THPT: Áp Dụng Chương Trình Lịch Sử Việt Nam 1858-1918" tập trung vào việc nâng cao kỹ năng đánh giá sự kiện lịch sử cho học sinh THPT thông qua chương trình lịch sử Việt Nam giai đoạn 1858-1918. Tài liệu này không chỉ cung cấp phương pháp giảng dạy hiệu quả mà còn giúp học sinh phát triển tư duy phản biện, khả năng phân tích và đánh giá các sự kiện lịch sử một cách toàn diện. Đây là nguồn tài liệu hữu ích cho giáo viên và học sinh trong việc tiếp cận lịch sử một cách sâu sắc và có hệ thống.

Để mở rộng kiến thức về các giai đoạn lịch sử khác, bạn có thể tham khảo Luận văn thạc sĩ chính sách tôn giáo của các chúa Nguyễn ở Đàng Trong thế kỉ XVII-XVIII, nghiên cứu về chính sách tôn giáo và ảnh hưởng của nó trong lịch sử. Ngoài ra, Luận văn thạc sĩ Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc lãnh đạo chiến tranh du kích chống thực dân Pháp xâm lược 1946-1954 cung cấp góc nhìn chi tiết về chiến tranh du kích, một phần quan trọng trong lịch sử kháng chiến của Việt Nam. Cuối cùng, Luận văn chính sách kinh tế chỉ huy ở Nam Kỳ thời Pháp-Nhật 1939-1945 sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về chính sách kinh tế và tác động của nó trong giai đoạn này.

Những tài liệu này không chỉ bổ sung kiến thức mà còn giúp bạn có cái nhìn đa chiều về các sự kiện lịch sử, từ đó nâng cao khả năng đánh giá và phân tích.