Luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục dạy học các bài thơ thuộc văn học trung đại việt nam trong sách giáo khoa ngữ văn lớp 11 theo hướng phát triển năng lực cảm thụ thẩm mỹ cho học sinh

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu dạy học thơ văn trung đại Việt Nam trong sách giáo khoa lớp 11, phát triển năng lực cảm thụ thẩm mỹ cho học sinh.

Trường đại học

Đại học Thái Nguyên

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ

2017

117
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Giới thiệu về năng lực cảm thụ thẩm mỹ

Năng lực cảm thụ thẩm mỹ là khả năng của mỗi cá nhân trong việc nhận ra và đánh giá các giá trị thẩm mỹ của sự vật, hiện tượng, con người và cuộc sống. Trong bối cảnh giáo dục hiện nay, việc phát triển năng lực cảm thụ cho học sinh thông qua thơ văn trung đại là một nhiệm vụ quan trọng. Chương trình sách giáo khoa lớp 11 đã đưa vào giảng dạy nhiều tác phẩm tiêu biểu, giúp học sinh không chỉ hiểu nội dung mà còn cảm nhận được vẻ đẹp nghệ thuật và giá trị nhân văn của các tác phẩm. Việc này không chỉ giúp học sinh phát triển tư duy mà còn hình thành những phẩm chất tốt đẹp trong nhân cách. Theo đó, giáo viên cần có phương pháp giảng dạy phù hợp để khơi dậy sự hứng thú và khả năng cảm thụ của học sinh đối với văn học trung đại.

1.1. Định nghĩa và vai trò của năng lực cảm thụ thẩm mỹ

Năng lực cảm thụ thẩm mỹ không chỉ đơn thuần là khả năng cảm nhận cái đẹp mà còn là khả năng đánh giá và phản ánh những giá trị thẩm mỹ trong cuộc sống. Điều này đặc biệt quan trọng trong việc giáo dục học sinh, giúp các em phát triển tư duy phản biện và khả năng sáng tạo. Giáo dục thẩm mỹ thông qua thơ văn trung đại không chỉ giúp học sinh hiểu biết về văn hóa, lịch sử mà còn hình thành những giá trị đạo đức, nhân văn. Việc này góp phần tạo nên một thế hệ học sinh có khả năng cảm nhận và đánh giá cao cái đẹp trong cuộc sống, từ đó hình thành những hành vi ứng xử tích cực trong xã hội.

II. Nội dung giáo dục thẩm mỹ qua thơ văn trung đại

Trong chương trình sách giáo khoa lớp 11, các bài thơ thuộc văn học trung đại được lựa chọn kỹ lưỡng nhằm phát triển năng lực cảm thụ cho học sinh. Những tác phẩm như 'Tự tình' của Hồ Xuân Hương hay 'Câu cá mùa thu' của Nguyễn Khuyến không chỉ mang giá trị nghệ thuật mà còn chứa đựng những thông điệp sâu sắc về cuộc sống và con người. Việc phân tích và cảm nhận những tác phẩm này giúp học sinh không chỉ hiểu rõ hơn về nội dung mà còn cảm nhận được vẻ đẹp của ngôn ngữ, hình ảnh và âm điệu trong thơ. Điều này tạo ra một môi trường học tập tích cực, khuyến khích học sinh tham gia vào quá trình khám phá và sáng tạo. Giáo viên cần hướng dẫn học sinh cách tiếp cận và phân tích tác phẩm một cách sâu sắc, từ đó phát triển khả năng cảm thụ và đánh giá thẩm mỹ.

2.1. Phân tích các tác phẩm tiêu biểu

Mỗi tác phẩm trong văn học trung đại đều có những đặc điểm riêng biệt, phản ánh tâm tư, tình cảm của tác giả và bối cảnh xã hội thời kỳ đó. Ví dụ, bài thơ 'Thương vợ' của Trần Tế Xương không chỉ thể hiện tình yêu thương mà còn phản ánh những khó khăn, vất vả của người phụ nữ trong xã hội phong kiến. Qua việc phân tích các tác phẩm này, học sinh sẽ nhận ra được giá trị nhân văn và nghệ thuật, từ đó nâng cao năng lực cảm thụ của mình. Việc giảng dạy cần chú trọng đến việc khơi gợi cảm xúc và sự đồng cảm của học sinh với nhân vật trong tác phẩm, giúp các em hiểu sâu sắc hơn về cuộc sống và con người.

III. Phương pháp giảng dạy nhằm phát triển năng lực cảm thụ thẩm mỹ

Để phát triển năng lực cảm thụ thẩm mỹ cho học sinh, giáo viên cần áp dụng những phương pháp giảng dạy tích cực và sáng tạo. Việc sử dụng các hoạt động trải nghiệm, thảo luận nhóm và phân tích tác phẩm theo hướng mở sẽ giúp học sinh chủ động hơn trong việc tiếp cận và cảm nhận tác phẩm. Giáo dục thẩm mỹ không chỉ dừng lại ở việc truyền đạt kiến thức mà còn cần tạo ra không gian cho học sinh thể hiện cảm xúc và suy nghĩ của mình. Các phương pháp như đọc diễn cảm, phân tích hình ảnh và âm điệu trong thơ sẽ giúp học sinh cảm nhận được vẻ đẹp của ngôn ngữ nghệ thuật. Điều này không chỉ giúp học sinh nâng cao khả năng cảm thụ mà còn phát triển tư duy sáng tạo và khả năng biểu đạt của các em.

3.1. Các hoạt động giảng dạy hiệu quả

Các hoạt động giảng dạy cần được thiết kế sao cho phù hợp với đặc điểm tâm lý và nhu cầu của học sinh. Việc tổ chức các buổi thảo luận, phân tích tác phẩm theo nhóm sẽ tạo cơ hội cho học sinh giao lưu, chia sẻ ý kiến và cảm xúc của mình. Ngoài ra, giáo viên cũng có thể sử dụng các phương pháp dạy học tích cực như trò chơi, hoạt động trải nghiệm để khơi gợi sự hứng thú và sáng tạo của học sinh. Những hoạt động này không chỉ giúp học sinh hiểu rõ hơn về tác phẩm mà còn phát triển năng lực cảm thụ và khả năng tư duy phản biện của các em.

IV. Đánh giá và ứng dụng thực tiễn

Việc phát triển năng lực cảm thụ thẩm mỹ qua thơ văn trung đại trong sách giáo khoa lớp 11 không chỉ mang lại lợi ích cho học sinh trong việc học tập mà còn góp phần hình thành nhân cách và giá trị sống cho các em. Những tác phẩm văn học không chỉ là nguồn kiến thức mà còn là những bài học quý giá về cuộc sống, tình yêu và con người. Giáo viên cần thường xuyên đánh giá và điều chỉnh phương pháp giảng dạy để phù hợp với nhu cầu và khả năng của học sinh. Việc này không chỉ giúp nâng cao chất lượng dạy học mà còn tạo ra một môi trường học tập tích cực, khuyến khích học sinh phát triển toàn diện.

4.1. Tác động đến học sinh và xã hội

Việc phát triển năng lực cảm thụ không chỉ giúp học sinh có khả năng cảm nhận cái đẹp mà còn hình thành những giá trị đạo đức và nhân văn trong cuộc sống. Học sinh sẽ trở thành những người có khả năng đánh giá và cảm nhận sâu sắc về cuộc sống, từ đó có những hành vi ứng xử tích cực trong xã hội. Điều này không chỉ có lợi cho bản thân học sinh mà còn góp phần xây dựng một xã hội văn minh, nhân ái hơn. Giáo dục thẩm mỹ qua thơ văn trung đại sẽ là nền tảng vững chắc cho sự phát triển toàn diện của học sinh trong tương lai.

09/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1. Lý thuyết về tiếp nhận thẩm mỹ 1. Khái niệm thẩm mỹ Cảm thụ và hiểu biết về cái đẹp 1. Tiếp nhận thẩm mỹ Từ điển Văn học (bộ mới) (NXB Thế giới.

1998), tác giả Lại Nguyên Ân cho rằng: Tiếp nhận thẩm mỹ là một dạng thức hoạt động thẩm mỹ, được thực hiện ở dạng tiếp nhận (thưởng thức, cảm thụ) tác phẩm nghệ thuật với tư cách một giá trị thẩm mỹ. Tiếp nhận thẩm mỹ không phải là sự tái hiện giản đơn tác phẩm nghệ thuật trong ý thức, mà là một quá trình phức tạp: quá trình cùng tham dự và cùng sáng tạo của chủ thể. Khác với hoạt động thẩm mỹ của nghệ sỹ - người sáng tạo tác phẩm nghệ thuật, tiếp nhận thẩm mỹ không mang tính công nghệ và nó vận hành theo hướng ngược: từ việc tiếp nhận kết quả (tác phẩm nghệ thuật nói chung) đi đến tiếp nhận các ý tưởng chứa đựng trong đó. Giữa tác phẩm và chủ thể tiếp nhận bao giờ cũng có một sự gián cách thẩm mỹ: phải ý thức rằng trước mắt chỉ là sự miêu tả thực tại chứ không phải là bản thân thực tại.

Để vượt qua sự gián cách, ở chủ thể tiếp nhận phải có một trạng thái tâm lý nhất định (tâm thế thẩm mỹ) để vừa cảm nhận tác phẩm nghệ thuật như có thể là thực tại, đồng thời vừa không quên tính ước lệ của nó. Tiếp nhận thẩm mỹ, vì vậy, mang tính hai chiều (tiếng Pháp: ambivalent): chủ thể tiếp nhận vừa tin vừa không tin vào tính thực tại của cái được miêu tả [1]. Tiếp nhận thẩm mỹ được xác định phần lớn bởi tác phẩm nghệ thuật: tác phẩm không chỉ là nguồn thông tin nghệ thuật chủ yếu, mà còn đề ra phương thức “đọc”, “dịch” nó sang bình diện cảm xúc - hình tượng của chủ thể. Tính phức tạp của tiếp nhận thẩm mỹ là ở chỗ các ý tưởng của tác phẩm không thể dịch sang bình diện lời nói, khái niệm (theo lối nói hình ảnh của Hêminguê, nó giống như 7/8 phần của tảng băng trôi bị chìm dưới nước).

Đặc 12 tính trên là căn cứ để chủ nghĩa tượng trưng xây dựng quan niệm của họ, theo đó tư tưởng thẩm mỹ bao giờ cũng tiềm ẩn so với ý thức thường ngày. Tuy nhiên, ở văn bản nghệ thuật, ở hệ thống các phương tiện biểu hiện bao giờ cũng có khóa mã cho phép giải ra các hàm nghĩa kín đáo của nó. Việc thâm nhập vào hàm nghĩa của tác phẩm nghệ thuật còn phụ thuộc vào năng lực thẩm mỹ của chủ thể, vào trình độ phát triển về tình cảm thẩm mỹ ở chủ thể tiếp nhận. Tính chọn lọc và chiều sâu của tiếp nhận thẩm mỹ bị quy định bởi trạng thái văn hóa xã hội, bởi tiềm năng văn hóa chung của cá nhân.

Sản phẩm của tiếp nhận thẩm mỹ là một hình tượng và một hàm nghĩa “thứ sinh”, có thể trùng hoặc không trùng với hình tượng và tư tưởng mà tác giả trù định. Có thể phân chia một số điểm chủ chốt trong quá trình tiếp nhận thẩm mỹ: - Tâm thế hướng vào tiếp nhận tác phẩm nghệ thuật; - Cảm xúc sơ bộ từ việc tiếp xúc với nó; - Vui mừng nhận ra ở tác phẩm cái hình tượng chờ đợi, phát triển nó trên cơ sở liên tưởng với các ý niệm hợp với kinh nghiệm sống và kinh nghiệm văn hóa của chủ thể. Do chỗ hình tượng nghệ thuật không bao giờ hoàn toàn phù hợp với sự chờ đợi của chủ thể, cho nên sự nhận ra bao giờ cũng mang dạng thức một trò chơi độc đáo: chiếm lĩnh hình tượng nghệ thuật của “kẻ khác” và truyền xúc cảm của mình vào hình tượng ấy. Trong trường hợp thông tin nghệ thuật vượt quá sự chờ đợi của chủ thể, khi đó hoặc là sự tiếp nhận thẩm mỹ bị phá vỡ (chủ thể đánh giá tác phẩm là kỳ quặc, lố lăng, phi lý, kém cỏi), hoặc là trên cơ sở tăng cường óc tưởng tượng, ở chủ thể tiếp nhận sẽ hình thành một hình tượng - cảm xúc mới, trong đó tư tưởng mà nghệ sĩ gửi vào tác phẩm sẽ được khám phá như mới nảy sinh.

Điểm cao nhất của tiếp nhận thẩm mỹ đi kèm với một cảm xúc thẩm mỹ sâu sắc, có thể gọi là thanh lọc (catharsis), theo thuật ngữ Arixtôt. Hoàn tất quá trình tiếp nhận thẩm mỹ là phán đoán thẩm mỹ. 13 Tiếp nhận thẩm mỹ không bao giờ có dạng khai triển; nó có thể dừng lại ở cảm xúc sơ bộ hoặc ở mức nhận ra những hình tượng quen thuộc, nhưng có thể đạt tới một độ căng cao, khi chủ thể cảm nhận niềm vui chẳng những do cái hàm nghĩa được anh ta khám phá, mà còn do bản thân hành vi khám phá ấy. Dạy đọc hiểu văn bản văn chương theo hướng phát triển năng lực cảm thụ thẩm mỹ cho học sinh 1.

Khái niệm “năng lực” “Từ điển tiếng Việt” do Hoàng Phê chủ biên (NXB Đà Nẵng, 1998) có giải thích: Năng lực là “Khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hoạt động nào đó. Phẩm chất tâm lí và sinh lí tạo cho con người khả năng hoàn thành một loại hoạt động nào đó với chất lượng cao” [32]. Trong Tài liệu tập huấn việc dạy học và kiểm tra, đánh giá theo định hướng phát triển năng lực của học sinh do Bộ Giáo dục và Đào tạo phát hành năm 2014 thì “Năng lực được quan niệm là sự kết hợp một cách linh hoạt và có tổ chức kiến thức, kỹ năng với thái độ, tình cảm, giá trị, động cơ cá nhân… nhằm đáp ứng hiệu quả một yêu cầu phức hợp của hoạt động trong bối cảnh nhất định” [40]. Năng lực thể hiện sự vận dụng tổng hợp nhiều yếu tố (phẩm chất của người lao động, kiến thức và kỹ năng) được thể hiện thông qua các hoạt động của cá nhân nhằm thực hiện một loại công việc nào đó.

Năng lực bao gồm các yếu tố cơ bản mà mọi người lao động, mọi công dân đều cần phải có, đó là các năng lực chung, cốt lõi”. Định hướng chương trình giáo dục phổ thông (GDPT) sau năm 2015 đã xác định một số năng lực những năng lực cốt lõi mà học sinh Việt Nam cần phải có như: - Năng lực làm chủ và phát triển bản thân, bao gồm: + Năng lực tự học; + Năng lực giải quyết vấn đề; + Năng lực sáng tạo; + Năng lực quản lí bản thân. 14 - Năng lực xã hội, bao gồm: + Năng lực giao tiếp; + Năng lực hợp tác. - Năng lực công cụ, bao gồm: + Năng lực tính toán; + Năng lực sử dụng ngôn ngữ; + Năng lực ứng dụng công nghệ thông tin (ITC).

Như vậy có thể hiểu một cách ngắn gọn năng lực là khả năng vận dụng tất cả những yếu tố chủ quan (mà bản thân có sẵn hoặc được hình thành qua học tập) để giải quyết các vấn đề trong học tập, công tác và cuộc sống. Các năng lực mà môn học Ngữ văn hướng đế n bao gồm:. Năng lực sáng ta ̣o. Năng lực giải quyế t vấ n đề.

Năng lực tự quản bản thân. Năng lực giao tiế p tiế ng Viê ̣t. Năng lực thưởng thức văn ho ̣c/cảm thu ̣ thẩ m mỹ Trong cuốn Lý luận dạy học hiện đại, các nhà nghiên cứu Bernd Meier và Nguyễn Văn Cường cho rằng: Chương trình dạy học định hướng năng lực không quy định những nội dung dạy học chi tiết mà quy định những kết quả đầu ra mong muốn của quá trình đào tạo, trên cơ sở đó đưa ra những hướng dẫn chung về việc lựa chọn nội dung, phương pháp, tổ chức và đánh giá kết quả dạy học nhằm đảm bảo thực hiện mục tiêu dạy học, tức là đạt được kết quả đầu ra mong muốn. Trong chương trình định hướng năng lực, mục tiêu học tập - tức là kết quả học tập mong muốn thường được mô tả thông qua hệ thống các năng lực.

Kết quả học tập mong muốn được mô tả chi tiết và có thể quan sát, đánh giá được [4]. Với nội dung, yêu cầu và cách vận hành như vậy, chương trình giáo dục định hướng năng lực có ưu thế trong việc quản lý chất lượng sản phẩm đào tạo ở đầu ra - tức năng lực vận dụng vào thực tiễn của HS. 15 Các tác giả của Từ điển giáo dục thì quan niệm “Năng lực là khả năng được hình thành hoặc phát triển, cho phép con người đạt được thành công trong một hoạt động thể lực, trí tuệ hoặc nghề nghiệp” [15]. Nhìn chung các quan niệm về năng lực đều giống nhau ở một điểm là khi nói tới năng lực là nói tới kiến thức, kỹ năng và khả năng huy động các kiến thức, kỹ năng đó để giải quyết thành công các vấn đề do cuộc sống đặt ra.

Một người được xem là có năng lực phải là người có khả năng giải quyết thành công các vấn đề trong cuộc sống thuộc lĩnh vực đang nói tới. Trong bài viết Phác thảo chương trình Ngữ văn theo định hướng phát triển năng lực, PGS.TS Bùi Mạnh Hùng cho rằng: Môn Ngữ văn giúp HS phát triển các năng lực và phẩm chất tổng quát và đặc thù, góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục của nhà trường Phổ thông nói chung. Năng lực tư duy, năng lực tưởng tượng và sáng tạo, năng lực hợp tác, năng lực tự học là những năng lực tổng quát, liên quan đến nhiều môn học. Năng lực sử dụng ngôn ngữ và năng lực thẩm mỹ mà chủ yếu là cảm thụ văn học là những năng lực đặc thù, trong đó năng lực sử dụng ngôn ngữ để giao tiếp và tư duy đóng vai trò hết sức quan trọng trong học tập của học sinh và công việc của các em trong tương lai, giúp các em nâng cao chất lượng cuộc sống.

Đồng thời với quá trình giúp HS phát triển các năng lực tổng quát và đặc thù, môn Ngữ văn có sứ mạng giáo dục tình cảm và nhân cách cho người học [16]. Như vậy, muốn đánh giá một năng lực nào đó cần đánh giá hai vấn đề: Một là kiến thức, kỹ năng; hai là khả năng sử dụng các kiến thức, kỹ năng đó để giải quyết các vấn đề có liên quan đến cuộc sống. Năng lực thưởng thức văn học/cảm thụ thẩm mỹ là một trong các năng lực mà môn ho ̣c Ngữ văn hướng đế n.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ