MỞ ĐẦU Viêm gan B là một căn bệnh truyền nhiễm gây ra bởi virus viêm gan B (HBV). Đây là nguyên nhân hàng đầu dẫn đến sơ gan và ung thư gan. Theo thống kế của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), hiện có khoảng 2 tỷ người nhiễm HBV trên toàn thế giới và khoảng 296 triệu người mắc viêm gan B mạn tính. Ước tính năm 2019, mỗi năm có khoảng 1,5 triệu ca mắc mới và các biến chứng của viêm gan virus B là nguyên nhân gây ra 820.000 ca tử vong trên toàn thế giới trong đó chủ yếu là sơ gan và ung thư gan [70].
Việt Nam là nước có tỷ lệ nhiễm HBV cao, ước tính khoảng 8-25% dân số [26]. Điều trị viêm gan B mạn tính, hiện có 2 nhóm thuốc được cấp phép sử dụng để ức chế sự nhân lên của virus và hạn chế tổn thương gan trong lúc cơ thể hình thành miễn dịch với virus là nhóm thuốc dạng tiêm như Pegylated inteferon alfa-2a hoặc Interferon alfa-2b, và nhóm thuốc dạng uống có cấu trúc tương tự nucleot(s)ide (NA), gồm 5 loại: Lamivudine (LMV), Telbivudine (LdT), Adefovir (ADF), Tenofovir (TDF), và Entecavir (ETV) [36]. So sánh giữa 2 nhóm thuốc nói trên, nhóm thuốc dạng tiêm vừa có khả năng ức chế virus vừa bổ trợ miễn dịch, tuy nhiên có tỉ lệ đáp ứng thấp hơn, giá thành cao hơn và có nhiều tác dụng phụ hơn so với nhóm thuốc NA [30]. Nhóm thuốc NA mặc dù có tỉ lệ đáp ứng cao hơn, nhưng lại có hiệu quả giảm dần theo quá trình điều trị do xuất hiện tính kháng thuốc của HBV.
Sự kháng thuốc của HBV phát sinh do một số đột biến trong vùng gen mã hóa enzym phiên mã ngược (RTase, là đích tấn công của thuốc NA) làm giảm ái lực của thuốc NA với enzym RTase. Do đó, việc sử dụng thuốc NA đóng vai trò như tác nhân chọn lọc với các chủng virus có khả năng kháng thuốc, khả năng kháng thuốc của quần thể virus tăng nhanh và tương ứng với thời gian sử dụng thuốc. Những bệnh nhân này nếu không lựa chọn loại thuốc kháng virus phù hợp thì khả năng thất bại điều trị, đồng thời còn có thể kéo theo tình trạng kháng chéo. Bởi vậy, xác định sớm xu hướng kháng thuốc trước và trong quá trình điều trị viêm gan B là một trong những yếu tố quyết định tới hiệu quả của toàn bộ quá trình điều trị.
1 Nhiều kỹ thuật sinh học đã được phát triển để ứng dụng xác định đột biến kháng thuốc ở HBV, phương pháp PCR vùng gen mã hóa enzym RTase HBV kết hợp giải trình tự Sanger được coi là “tiêu chuẩn vàng” trong xác định đột biến kháng thuốc của HBV. Đồng thời, kỹ thuật này cho phép xác định các đột biến mới, các đột biến “tiềm năng” trong quần thể. Tuy nhiên, nhược điểm chính của phương pháp là độ nhạy thấp, khoảng 10 – 20% đột biến/quần thể [36]. Do đó, khả năng ứng dụng trong chẩn đoán sớm không cao.
Phương pháp MALDI-ToF và giải trình tự thế hệ mới (Next Generation Sequencing- NGS có độ nhạy cao, tuy nhiên yêu cầu máy móc và trang thiết bị đắt tiền nên khó áp dụng cho chẩn đoán [36]. Một số nhóm nghiên cứu đã phát triển những phương pháp cải tiến để khắc phục những hạn chế của các phương pháp trên như phương pháp real time PCR Taqman probe có ưu điểm đơn giản và có độ nhạy cao (1-5% đột biến/quần thể) [17,45]. Tuy nhiên, hầu hết các nghiên cứu này chỉ tập trung vào một vài đột biến kháng thuốc, phổ đột biến còn hạn chế nên chưa bao phủ được những đột biến đang lưu hành hiện nay ở Việt Nam. Do đó, tôi thực hiện đề tài: “Phát triển kỹ thuật COLD-PCR và real time PCR LNA để xác định và sàng lọc nhanh các đột biến kháng thuốc Nucleot(s)ide của Hepatitis virus B” Với những mục tiêu chính như sau: - Phát triển kỹ thuật COLD-PCR có độ nhạy cao để xác định phổ đột biến và các đột biến mới/tiềm năng liên quan đến tính kháng thuốc NA của HBV.
- Phát triển kỹ thuật real time PCR LNA có độ nhạy cao để sàng lọc nhanh, phát hiện sớm các đột biến kháng thuốc NA của HBV, ứng dụng xác định sớm xu hướng kháng thuốc, hỗ trợ bác sĩ lâm sàng lựa chọn liệu pháp điều trị hiệu quả cho bệnh nhân viêm gan B mạn tính. Đại cương về viêm gan B và HBV 1. Viêm gan B Viêm gan B là một bệnh nhiễm trùng phổ biến trên toàn thế giới do HBV gây ra. Nó có thể gây nhiễm trùng mạn tính và có nguy cơ cao dẫn đến tử vong do xơ gan và ung thư gan [70].
Nhiễm trùng mạn tính được đặc trưng bởi sự tồn tại của kháng nguyên HBsAg trong ít nhất 6 tháng (có hoặc không có đồng thời HBeAg). Sự tồn tại dai dẳng của HBsAg là dấu hiệu chính của nguy cơ phát triển bệnh viêm gan mạn tính và ung thư biểu mô tế bào gan về sau. Theo hướng dẫn Bộ Y tế 2014, viêm gan B mạn tính được xác định khi có HBsAg (+) > 6 tháng hoặc HBsAg (+) và Anti HBc IgG (+), AST, ALT tăng từng đợt hoặc liên tục trên 6 tháng, có bằng chứng tổn thương mô bệnh học tiến triển, xơ gan (được xác định bằng sinh thiết gan hoặc đo độ đàn hồi gan hoặc Fibrotest hoặc chỉ số Aspartate aminotransferase-to-Platelet Ratio Index (APRI)) mà không do căn nguyên khác. Virus viêm gan B 1.
Hệ gen virus HBV là virus điển hình thuộc phân họ Hepadnaviridae (nhóm virus tấn công tế bào gan (hepa-) và genome DNA (-dna)). Lớp vỏ ngoài virus được cấu thành bởi lớp phospholipid từ tế bào gan, và các glycoproteins của virus (HBsAg). Sau đó là lớp lõi virus, gồm các proteins lõi (HBcAg). Trong cùng là capsid của HBV, gồm genome virus ở dạng sợi đôi không hoàn chỉnh và protein Polymerase (P protein).
Cấu trúc của lõi (core) của HBV là một DNA mạch đôi không khép kín, với trọng lượng phân tử 2×106 dalton, có kích thước khoảng 3,2 kb, gồm ba khung mã hóa và có bốn khung đọc mở khác nhau (ORF), mã hóa cho polymerase của virus, kháng nguyên HBc và HBe, protein điều hòa HBx và gen mã hóa cho các kháng nguyên bề mặt của virus (LHBs, MHBs và SHBs). Cấu trúc hạt virion (A) và genome của virus HBV (B) [77] Khung đọc mở Surface protein (S) mã hóa cho các protein bề mặt, là các kháng nguyên của HBV và có thể chia theo cấu trúc và chức năng thành các gen pre-S1, pre-S2 và gen S. Gen S: Mã hóa cho protein chính. Gen S và preS2 mã hóa loại protein trung bình (M).
Gen S, preS1 và preS2 mã hóa protein lớn (L) của vỏ ngoài chứa 390 acide amine, tham gia vào việc gắn virus vào tế bào gan, lắp ráp virion và giải phóng virus ra khỏi tế bào. Khung đọc mở Core protein (C): gồm gen C và preC. Gen C mã hóa cho protein lớn của lõi gồm 138 acid amin, có khả năng gắn kết với acid nucleic, tham gia vào quá trình lắp ráp virus. Khung đọc mở X protein (X): là gen có kích thước nhỏ nhất, mã hóa cho hai protein tham gia vào các giai đoạn phiên mã và sao chép trong quá trình nhân đôi của HBV, ngoài ra chúng còn đóng vai trò chủ yếu trong sự phát triển thành ung thư gan.
Khung đọc mở Polymerase protein (P): Gen P chiếm ¾ bộ gen của virus, gối lên phần cuối gen C, phần đầu gen X và toàn bộ gen S. Gen P mã hóa một polypeptide chứa 832 acid amin rất giàu histidine, trọng lượng phân tử khoảng 90 kD, có hoạt tính DNA polymerase và enzym phiên mã ngược (DNA polymerase phụ thuộc RNA). 4 Trong các khung đọc mở của virus HBV, khung đọc mở liên quan trực tiếp tới tính kháng thuốc của virus là khung đọc mở P mã hóa cho enzym HBV polymerase [77]. Khung đọc mở này bao gồm 4 vùng, tương ứng với 4 vùng chức năng của enzym, bao gồm: terminal protein, spacer, POL/RT, và Rnase H.
Vùng POL/RT thực hiện chức năng polymerase và phiên mã ngược, gồm 7 domains: A, B, C, D, E, G (I), và F (II). Cấu trúc vùng gene mã hóa enzym HBV Pol và các đột biến phổ biến tương ứng với loại thuốc kháng [65] 1. Vòng đời và cơ chế lây nhiễm của virus Chu trình xâm nhập và nhân lên của virus tả tóm tắt các bước như sau: 1) Virus nhận biết và bám vào các phân tử HSPG (heparan sulfate proteoglycans) trên thành tế bào gan. Liên kết này có thể bị đảo ngược 2) Virus bám vào tế bào chủ qua một loại thụ thể đặc hiệu với preS1 5 3) Có hai con đường virus xâm nhập vào tế bào: qua nhập bào, sau đó giải phóng nhân khỏi lớp vỏ nhân qua các bóng nội bào; hòa trộn vỏ virus từ màng tế bào 4) Virus giải phóng nhân virus chứa hệ gen đã gắn với polymerase của nó vào tế bào chủ 5) Nhân virus dịch chuyển trên hệ thống vi ống, tìm đến nhân của tế bào chủ và bám vào các lỗ màng nhân (NPC) 6) Nhân virus gỡ bỏ vỏ nhân trên NPC và giải phóng hệ gen rcDNA của chúng vào trong nhân tế bào chủ 7) Sửa chữa thành hệ gen virus hoàn chỉnh: polymerase của virus tiếp tục tổng hợp vùng còn thiếu của sợi dương trên hệ gen virus, polymerase rời khởi phức hợp, cắt bỏ vùng trình RNA-primer dùng cho quá trình tổng hợp sợi đôi.
Virus sử dụng enzym nội bào của tế bào chủ để thực hiện hai quá trình còn lại 8) Hình thành cấu trúc cccDNA. Phân tử cccDNA được tổ chức thành một cấu trúc giống với các sợi chromatin của tế bào chủ. 9) Phiên mã 10) Toàn bộ các mRNA của virus đều chứa một vùng trình tự polyA. Các mRNA này đều được vận chuyển ra tế bào chất bởi các cơ quan của tế bào chủ 11) Dịch mã các protein cấu trúc, polymerase và các protein bỏ của virus 12) Đóng gói vỏ nhân virus 13) Phiên mã ngược trên vùng pregenomic RNA và hoàn thiện hệ gen trưởng thành của virus trong vỏ nhân.
Toàn bộ quá trình hình thành nhân của virus diễn ra trong chất tế bào 14) Nhân virus có thể bám ngược trở lại nhân tế bào để tiếp tục quá trình tạo ra các cccDNA (bước 7 – 13) để tạo thêm các nhân virus mới hoặc được đóng vỏ để giải phóng ra khỏi tế bào chủ. Quá trình đóng vỏ tạo thành hạt virus hoàn chỉnh diễn ra và tận dụng màng lưới nội nhất của tế bào chủ 6 15) Thực nghiệm cho thấy, đa phần các cccDNA trong tế bào bị nhiễm là được tạo mới. Số lượng cccDNA có thể đến 50 cccDNA trên một tế bào, tùy thuộc vào loài. Sơ đồ mô tả chi tiết chu trình lây nhiễm và nhân lên của virus HBV trong tế bào chủ [66] 1.