Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1. Cơ sở lý luận của đề tài 1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Các công trình nghiên cứu trên thế giới Vấn đề kỹ năng không chỉ ngày nay mới được các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu mà ngay từ thời Cổ đại các nhà triết học đã đề cập đến.
Arixtot (384-322) trước công nguyên, với tác phẩm “Bàn về tâm hồn”. Trong tác phẩm này, tác giả coi “kỹ năng như một phẩm chất,một thành phần trong phẩm hạnh của con ngườix”. Ông cho rằng: Phẩm hạnh của con người là “Biết định hướng, biết làm việc, biết tìm tòi” và ông khẳng định người có phẩm hạnh là người có kỹ năng làm việc[12]. Từ các quan điểm của các nhà giáo học trên thì mô hình“ Nhà trường mới”, “Lớp học mới” đồng loạt được mở ra ở Anh, Pháp, Mĩ và các nước Châu Âu khác với phương châm khuyến khích các hoạt động độc lập của học sinh nhằm phát triển năng lực trí tuệ cho học sinh.
Vào thập niên 60 - 70 của thế kỉ 20 khi lí thuyết hoạt động của A.Leonchiev ra đời, hàng loạt các công trình nghiên cứu về kỹ năng, kỹ năng trí tuệ được công bố ở mức độ nghiên cứu sâu hơn về các điều kiện nghiên cứu hình thành chúng. Chẳng hạn: Nhà tâm lí học E.A Milerian (Người áo): Coi kỹ năng là một thành phần, một mức độ nguồn lực của con người, điều kiện hình thành kĩ năng là tri thức và kinh nghiệm trước đó. Như vậy, theo ông kỹ năng không phải tự nhiên mà có, kỹ năng được hình thành dựa trên sự tích lũy tri thức và kinh nghiệm cá nhân. Rutxo cũng quan niệm rằng, trí thức của trẻ được hình thành và phát triển thông qua việc tiếp xúc với đồ vật và hoạt động thực tiễn.
Chính trong quá trình hoạt động với đồ vật mà tri thức của trẻ được hình thành và phát triển tốt 6 nhất. Trong quá trình giảng dạy ông từng nói: “đồ vật, đồ vật – hãy đưa ra đồ vật”. Tôi không ngừng nhắc đi nhắc lại rằng chúng ta lạm dụng quá mức lời nói. Bằng cách ba hoa chúng ta chỉ tạo nên những con người ba hoa [25].
Đi sâu vào vấn đề quan sát, tìm hiểu của trẻ mẫu giáo trong các hoạt động, tác giả A. A, Lui Blinxkaia đã nhấn mạnh vai trò của quan sát, tìm hiểu khi nó góp phần làm cho hành động trí tuệ của trẻ trở nên nhanh chóng và hiệu quả hơn. Bà nói rằng, sự phối hợp hành động của tay với hoạt động của mắt làm cho sự tri giác hình dạng của trẻ mẫu giáo lớn tốt hơn [29]. Bên cạnh đó, vấn đề quan sát, tìm hiểu trong trò chơi và giờ học cùng với vật liệu xây dựng trong trường mầm non luôn được quan tâm.
litsvan cho rằng, một trong những yêu cầu để trẻ học tốt với vật liệu xây dựng là phải tập cho trẻ kỹ năng quan sát, phân biệt đồ vật, vật liệu thì mới có thê tập cho trẻ làm quen với các kỹ năng xây dựng mới và trẻ có thể tạo ra các sản phẩm của xây dựng. Tác giả đã đề ra yêu cầu đầu tiên đối với việc tiến hành trò chơi xây dựng ở trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi là “tiếp tục dạy trẻ kỹ năng quan sát, tìm hiểu, phân biệt những đặc tính đồ vật, so sánh khả năng xác định mối liên hệ nhân quả giữa chúng…” [10]. Các tác giả nước ngoài không chỉ quan tâm nhiều đến vấn đề tìm hiểu của trẻ mẫu giáo mà họ còn đặc biệt chú trọng nghiên cứu các vấn đề về kỹ năng nói chung và kỹ năng so sánh của trẻ nói riêng. Qua tìm hiểu các quan niệm của các tác giả nước ngoài chúng tôi thấy, họ nghiên cứu kỹ năng theo hai khuynh hướng: * Khuynh hướng thứ nhất: Nghiên cứu kỹ năng như một thành phần trong phẩm chất của con người.
Thế kỉ XVII – XVIII, một số nhà giáo dục học nổi tiếng như: J. J Rutxo (1712 – 1778, Pháp)… đã đề cập đến vấn đề hình thành kỹ năng trí tuệ của học sinh và con đường hình thanh kỹ năng này tuy chưa mang tính hệ thống. Nhà tâm lí học E. Milerian (người Áo) coi kỹ năng như một thành phần, một mức độ nguồn lực của con người, điều kiện hình thành kỹ năng là tri 7 thức và vốn kinh nghiệm trước đó.
Như vậy, theo ông kỹ năng không phải tự nhiên mà có, kỹ năng được hình thành và phát triển dựa trên sự tích lũy tri thức và kinh nghiệm cá nhân Một số tác giả như: Jean Marie Deketel nghiên cứu các kỹ năng nhận thức cơ bản của con người, Bloom, Phainer đã xác định các mức độ nhận thức của con người qua đó giúp tìm ra những kỹ năng cần thiết. * Khuynh hướng thứ hai: Nghiên cứu kỹ năng như là một biêu hiện của năng lực con người. Theo một số nhà tâm lý học sư phạm, họ coi kỹ năng là một biểu hiện của năng lực, làm rõ khái niệm kỹ năng, kỹ xảo mối quan hệ giữa kỹ năng và kỹ xảo. Theo các tác giả này, cơ sở của kỹ năng là tri thức và kinh nghiệm cá nhân.
Leevittov thì kỹ năng có hai loại: Kỹ năng bậc thấp và kỹ năng bậc cao[27], [7]. Xavier Roegiers xem kỹ năng như một biểu hiện của năng lực, Theo tác giả này, không có một kỹ năng nào tồn tại dưới dạng thuần khiết và mọi kỹ năng đều được biểu hiện qua nội dung cụ thể [33]. Ngoài ra, khi nghiên cứu về kỹ năng so sánh của trẻ các tác giả A. Đanilôva đã nghiên cứu các biện pháp hình thành kỹ năng so sánh số lượng trên cơ sở thiết lập tương ứng 1: 1 cho trẻ mẫu giáo ở lứa tuổi khác nhau.
Một số tác giả khác như: A. Mukhina,…cũng đã nghiên cứu khá kỹ đặc điểm phát triển kỹ năng so sánh cho trẻ mầm non. Các tác giả này đều cùng có quan điểm là trẻ chưa biết tiến hành đúng kỹ năng so sánh, chưa biết tách biệt các dấu hiệu bản chất trong mỗi đối tượng. Đến tuổi mẫu giáo thì kỹ năng so sánh ở trẻ phát triển tốt hơn, đặc biệt là độ tuổi 4 – 5.
Trong giai đoạn 4 – 5 tuổi, trẻ đã biết so sánh để tìm ra sự giống và khác nhau giữa các đồ vật. Hơn nữa khi so sánh trẻ biết chú ý đến các dấu hiệu cơ bản để tách bạch các đối tượng. Tuy nhiên, Kỹ năng so sánh ở trẻ 4 – 5 tuổi chưa thực sự thành thạo mà phải đến 5 – 6 tuổi thì kỹ năng so sánh mới thực hiện được hoàn chỉnh hơn. Nhưng nhược 8 điểm thường gặp ở trẻ mọi lứa tuổi là khi so sánh trẻ chú ý đến các đặc điểm bên ngoài không đặc trưng của đối tượng so sánh.
Vì vậy, cần có biện pháp phù hợp để giúp trẻ thực hiện kỹ năng so sánh có hiệu quả [18]. Như vậy, các tác giả tuy nhiên nghiên cứu khái niệm ở các góc độ khác nhau nhưng nhìn chung các quan điểm trên không trái nhau mà bổ sung cho nhau để làm sáng tỏ hơn về khái niệm này. Các công trình nghiên cứu ở trong nước Ở Việt Nam, cũng có nhiều công trình nghiên cứu về kỹ năng và kỹ năng so sánh của trẻ mẫu giáo. Phó giáo sư Nguyễn Ánh Tuyết, khi nghiên cứu về đặc điểm tâm lí ở trẻ em, tác giả đã nêu lên quá trình tư duy của con người phải dùng đến thao tác trí tuệ như: Phân tích, tổng hợp, so sánh, trừu tượng hóa, khái quát hóa…Bà cho rằng, để hình thành được các thao tác này cần tổ chức cho trẻ chơi hoạt động với đồ vật, tổ chức cho trẻ vui chơi, tiếp xúc với thế giới xung quanh.
Bà còn khẳng định rằng so sánh là một trong những thao tác cơ bản của tư duy và cần cho cuộc sống, học tập lao động của con người. Đối với trẻ mẫu giáo thì so sánh là cơ sở của hoạt động trí tuệ, cả hai phương diện cảm tính và lí tính đều diễn ra một cách thuận lợi [19]. Ngô Công Hoàn, PGS. Nguyễn Ánh Tuyết nghiên cứu ảnh hưởng của tìm hiểu trong hoạt động vui chơi của trẻ mẫu giáo.
Các tác giả đều cho rằng, cần phải tổ chức cho trẻ tìm hiểu trước khi tổ chức hoạt động vui chơi và trong hoạt động vui chơi. Đây là một yêu cầu không thể thiếu được trong quá trình tổ chức hoạt động vui chơi cho trẻ mẫu giáo [22]. Các tác giả Nguyễn ánh Tuyết, nguyễn Thị Hoa, Đinh Văn Vang và Võ Ánh Tuyết nghiên cứu vai trò của quán sát, tìm hiểu trong vui chơi. Họ cho rằng, trong quá trình tổ chức hướng dẫn trẻ mẫu giáo chơi, khi quan sát, tìm hiểu thì những hình tượng tri giác sẽ chuyển thành biểu tượng và từ đó trẻ tái tao lại hoặc sáng tạo khi thể hiện trong trò chơi, đặc biệt là trong trò chơi phân vai và trò chơi xây dựng – lắp ghép [25 ].
9 Các tác giả trong nước không chỉ nghiên cứu vai trò của tìm hiểu đối với sự phát triển nhận thức mà họ còn đi sâu nghiên cứu, tìm hiểu vấn đề phát triển các kỹ năng nhận thức của trẻ. Trong đề tài nghiên cứu cấp bộ “ vài nét về quy trình rèn luyện tay nghề cho sinh viên khoa giáo dục mầm non” tác giả Ngô Công Hoàn đã trình bày quy trình rèn luyện tay nghề cho sinh viên khoa giáo dục mầm non trường đại học sư phạm Hà Nội. Tác giả đưa ra một số kỹ năng như: Kỹ năng tiếp tục với trẻ, kỹ năng tổ chức chế độ sinh hoạt, kỹ năng tổ chức trò chơi, Kỹ năng lên lớp các tiết học và đưa vào các kỹ năng đó để đánh giá hoạt động thực tâp của sinh viên khoa giáo dục mầm non [13]. Bàn về kỹ năng so sánh của trẻ mầm non nói chung và kỹ năng so sánh của trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi nói riêng, các nhà tâm lí học – giáo dục học mầm non và một số tác giả khác đã quan niệm như sau: PGS.
Ngô Công Hoàn, nghiên cứu sự hình thành và phát triển thao tác so sánh của trẻ mầm non theo từng độ tuổi. Tác giả cho rằng, ngay từ tuổi nhà trẻ (24 - 36 tháng) trẻ đã biết: “ so sánh bánh này to hơn bánh kia, quả táo này to hơn quả táo kia” và đến tuổi mẫu giáo bé (3 – 4 tuổi) “ thao tác so sánh từ vật có khối lượng to nhỏ khác nhau để chọn quả cam, táo, chuối tự thích quả to hơn quả bé. Đến tuổi mẫu giáo nhỡ (4 – 5 tuổi) thao tác so sánh phát triển ở mức độ cao hơn”.