phần mở đầu; 4 chương, 12 tiết; kết luận; danh mục các công trình nghiên cứu của tác giả đã công bố liên quan đến đề tài luận án; danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục. 9 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI Phát triển KT - XH gắn với đảm bảo QP, AN không phải là vấn đề riêng của thời đại ngày nay, không chỉ là vấn đề có tính quy luật của cách mạng Việt Nam, mà là vấn đề có tính quy luật chung cho mọi XH còn giai cấp và đấu tranh giai cấp, còn mưu đồ thôn tính của dân tộc này đối với dân tộc khác. Đối với Việt Nam, phát triển KT - XH gắn với đảm bảo QP, AN là một quy luật khách quan, là sự thiết lập mối quan hệ hữu cơ giữa hai nội dung, hai lực lượng, cái này tạo tiền đề cho phát triển cái kia và ngược lại. Qua mỗi thời kỳ, nhận thức và tổ chức thực hiện nội dung gắn kết đó đều được bổ sung, phát triển.
Chính vì vậy, việc khái quát lịch sử vấn đề nghiên cứu và nghiên cứu, tiếp cận nhiều kênh thông tin, đặc biệt là những công trình khoa học đã được công bố liên quan đến đề tài là vấn đề có ý nghĩa to lớn giúp cho luận án có cơ sở khoa học trong kế thừa, phát triển. Khái quát lịch sử vấn đề nghiên cứu phát triển kinh tế - xã hội gắn với đảm bảo quốc phòng, an ninh ở Việt Nam 1. Phát triển kinh tế - xã hội gắn với đảm bảo quốc phòng, an ninh trong thời kỳ Phong kiến Việt Nam là quốc gia có vị trí địa chiến lược quan trọng trong khu vực và trên thế giới, nền KT chậm phát triển, nên trải qua hàng nghìn năm lịch sử, kể từ khi các Vua Hùng dựng nước đến nay, Việt Nam luôn bị nhiều kẻ thù nhòm ngó, tiến công xâm lược. Tình hình đó đã đặt ra cho dân tộc ta phải nhận thức rõ KT và QP là những nhân tố có vai trò rất quan trọng, phải chú trọng phát triển KT và thường xuyên chăm lo đến QP, tạo sức mạnh bền vững bảo vệ vững chắc đất nước.
Vì vậy, ngay từ thời kỳ phong kiến, phát triển KT - XH gắn với đảm bảo QP, AN đã trở thành kế sách dựng nước và giữ nước của dân tộc. Kế sách “Dựng nước đi đôi với giữ nước” đã trở thành nét văn hoá QS, QP độc đáo và là truyền thống quý báu của dân tộc. Kế sách đó đòi hỏi sự chuẩn bị đất nước đánh giặc ngay từ thời bình; đồng 10 thời, khi chiến tranh xảy ra thực hiện vừa đánh giặc, vừa lao động sản xuất; thắng giặc rồi thì lo xây dựng đất nước, lúc nào cũng phải sẵn sàng đối phó với mọi kẻ thù, nhiệm vụ đánh giặc giữ nước gắn với nhiệm vụ xây dựng đất nước. Thực chất, đây là sự nhận thức về tính tất yếu của việc kết hợp KT với QP trên cơ sở nhận thức mối quan hệ chặt chẽ giữa KT với chiến tranh, KT với QP: “Thực túc, bình cường”, “Phú quốc, binh cường”; đất nước giàu mạnh là cơ sở vật chất tạo ra sức mạnh QP đủ sức ngăn ngừa, đẩy lùi, làm thất bại các âm mưu, kế hoạch xâm lược của kẻ thù; QP mạnh tạo ra môi trường hoà bình cho xây dựng, phát triển đất nước.
Kế sách “Dựng nước đi đôi với giữ nước” của ông cha ta trong thời kỳ phong kiến được biểu hiện tập trung ở những nội dung sau: Một là, nhiều triều đại phong kiến Việt Nam đã đề ra nhiều kế sách giữ nước sáng tạo, linh hoạt; thể hiện sự gắn kết chặt chẽ KT với QP, tiêu biểu là kế sách “Ngụ binh ư nông” dưới các triều đại phong kiến Lý, Trần và Lê Sơ; “Lấy dân làm gốc”, dân giàu nước mạnh, quốc phú binh cường. “Ngụ binh ư nông” là gửi một bộ phận quân vào nông dân, nông thôn, kết hợp quân với dân cùng xây dựng quân đội, chỉ duy trì một số lượng quân thường trực hợp lý. Kế sách “Ngụ binh ư nông” là sản phẩm của nhận thức coi trọng việc binh với vai trò quan trọng của nông nghiệp nhằm bảo đảm sự cân đối, hợp lý giữa phát triển KT và củng cố QP, giữa xây dựng LLVT thường trực với LLVT dự bị. Khi Bàn về kế sách “Ngụ binh ư nông”, nhà sử học Ngô Thì Sĩ đánh giá: “Chế độ binh lính của nhà Lý… mỗi tháng lên cơ ngũ một lần, gọi là đi canh, hết canh lại về quê làm ruộng, quân không phải cấp lương… không có phí tổn nuôi lính, mà có công hiệu dùng sức lính, cũng là chế độ hay” [63, tr.
Nhà sử học Phan Huy Chú cũng đưa ra lời bình: “Đời xưa binh lấy nghề nông là có ý phục việc nguy hiểm vào nơi thuận tiện… Trong thành vua có quân Túc vệ, đội ngũ đông nghiêm. Còn quân ở ngoài thì vẫn theo ý nghĩa đời xưa, lúc vô sự thì về làm ruộng, khi có động thì chiếu sổ gọi ra hết. Cho nên binh vẫn đủ mà không phải tiêu phí nhiều, càng thêm hăng hái chống thù. Cái chiến 11 công dẹp quân Chiêm, phá quân Tống, cái oai hùng ba lần đánh bại quân Nguyên cũng đủ cho biết binh lực hai đời cường thịnh là thế nào” [18, tr.8]; “Đời Lý… ngoại binh thì không có lương, cứ luân phiên đến canh, hết phiên canh cho về nhà cày cấy trồng trọt để tự cấp.
Nhà Trần theo phép nhà Lý… binh các đạo thì đều chia phiên về làm ruộng cho đỡ tốn lương… Phép nuôi binh đời Lê sơ đại để theo phép ngụ binh ư nông của các đời Lý, Trần, không phải cấp lương bổng. Thời Hồng Đức trở về sau, cứ theo phép đấy không đổi” [18, tr. Như vậy, có thể nói, kế sách “Ngụ binh ư nông” là một cơ chế hoàn hảo về mặt động viên và sử dụng nguồn nhân lực trong việc xây dựng LLVT phòng giữ đất nước, xây dựng tiềm lực QP mạnh trên cơ sở phát triển KT với củng cố lực lượng QS. Nhờ cơ chế này đã tạo ra binh mạnh, lương nhiều trong thời bình và khi thời chiến xảy ra, sẽ tao ra một lực lượng hùng hậu toàn dân là lính, cả nước đánh giặc.
Hai là, các triều đại phong kiến luôn quan tâm đến việc xây dựng lực lượng, khuyến khích việc di dân lên các vùng biên giới, hải đảo, thực hiện chính sách giãn dân, khai hoang lập ấp ở các vùng biên ải để khai phá đất hoang, phân bố lại lực lượng, tăng cường lực lượng tại chỗ, vừa làm giàu cho đất nước, vừa phục vụ cho nhiệm vụ giữ nước, tạo ra thế trận đánh giặc từ xa và thực hiện gửi lực lượng, tích trữ lương thực trong dân để chuẩn bị sẵn sàng cho chiến tranh bảo vệ biên cương đất nước, như thực tiễn ông cha ta đã thực hiện đưa quân lính lên khai hoang lập ấp ở vùng biên giới Quảng Yên, Lạng Sơn. Ba là, nhiều triều đại phong kiến như: Tiền Lê, Lý, Trần, Lê Sơ… rất coi trọng mở mang hệ thống giao thông thuỷ, bộ như: kênh nhà Lê ở Thanh Hoá và Nghệ An; kênh Vĩnh Tế ở Tây Nam Bộ… với mục đích vừa phục vụ nhu cầu giao lưu phát triển KT, vừa đảm bảo QP, QS như: cơ động lực lượng, phương tiện QS, vận tải tiếp tế, thông tin liên lạc khi chiến tranh xảy ra. Bốn là, để chuẩn bị cho công cuộc giữ nước từ thời bình, các triều đại phong kiến thường xuyên quan tâm đến phát triển nhiều ngành KT có tính 12 lưỡng dụng, tiêu biểu là các ngành thủ công nghiệp trong nước, nhất là các ngành nghề có liên quan đến QP để vừa đáp ứng nhu cầu dân sinh, vừa đảm bảo nhu cầu QP của đất nước. Trên thực tế, từ thế kỷ XI, ở nước ta (Đại Việt) đã hình thành và phát triển các xưởng thủ công của triều đình vừa sản xuất các sản phẩm mang tính chất KT như sản xuất các sản phẩm dân sinh dùng trong hoàng gia, cung đình, vừa sản xuất sản phẩm trực tiếp đảm bảo cho các nhu cầu QS như: đảm bảo nhu cầu xây dựng LLVT, quân đội, thuyền chiến, vũ khí… Thời Lý đã sản xuất được thuyền lớn đảm bảo cho thuỷ quân tác chiến trên sông lớn và biển gần; vũ khí hạng nặng như máy bắn đá… Thời Trần đã sản xuất được “Thần cơ song pháo” là một loại hoả pháo có uy lực mạnh.
Thời Lê đã sản xuất ra các loại thuyền chiến, vũ khí rất phong phú và có tác dụng chiến đấu rất cao… Các lò thủ công gia đình cũng được quan tâm phát triển, thời bình tập trung sản xuất các sản phẩm dân sinh đáp ứng nhu cầu sinh hoạt của nhân dân địa phương; thời chiến sẵn sàng chuyển sang sản xuất các sản phẩm đảm bảo nhu cầu QS như: khai mỏ, đúc đồng, rèn sắt, đóng thuyền, sản xuất vũ khí… Đây là các cơ sở sản xuất cung cấp chủ yếu các loại vũ khí cho các lực lượng dân binh, thổ binh và còn đảm bảo cung ứng, sửa chữa vũ khí cho cả quân triều đình khi chiến tranh xảy ra. Những nội dung trên cho thấy, các triều đại phong kiến nước ta đã quan tâm phát triển nhiều ngành KT có tính lưỡng dụng, vừa đáp ứng nhu cầu dân sinh, vừa đáp ứng nhu cầu tăng cường khả năng đảm bảo QP, AN của đất nước. Phát triển kinh tế - xã hội gắn với đảm bảo quốc phòng, an ninh từ khi có Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo 1. Trong thời kỳ Cách mạng Tháng Tám và kháng chiến chống thực dân Pháp, đế quốc Mỹ xâm lược Ngay từ khi thành lập và trong suốt quá trình lãnh đạo cách cách mạng Việt Nam, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - 13 Lênin về mối quan hệ KT với chiến tranh, KT với QP, kế thừa truyền thống, kinh nghiệm kết hợp KT với QP trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc, sự nhận thức về phát triển KT với đảm bảo QP ở Việt Nam luôn có những phát triển mới.
Ngay sau khi cách mạng Tháng Tám thành công, “Chỉ thị của Ban Chấp hành Trung ương về kháng chiến kiến quốc” (25/11/1945), xác định nhiệm vụ cần kíp của cách mạng lúc này là “Phải củng cố chính quyền, chống thực dân Pháp xâm lược, bại trừ nội phản, cải thiện đời sống cho nhân dân” [26, tr. Qua Chỉ thị cho thấy Đảng đã nhận thức đúng đắn mối quan hệ giữa kháng chiến và kiến quốc. Thực chất, đó là sự nhận thức sâu sắc và vận dụng sáng tạo phát triển KT với đảm bảo QP của Đảng, Nhà nước trong điều kiện kháng chiến.