Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ chuyên ngành Chính trị học (mã số 62.01) của tác giả Mai Thị Hồng Liên với đề tài "Nhà nước kiến tạo phát triển - Lý luận và triển vọng thực tiễn ở Việt Nam" được thực hiện tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, dưới sự hướng dẫn khoa học của Ngô Huy Đức và Hồ Tấn Sáng, bảo vệ năm 2019.
Luận án được triển khai xuất phát từ bối cảnh quốc tế và thực tiễn phát triển trong nước:
- Bối cảnh quốc tế: Sự sụp đổ của nền kinh tế mệnh lệnh kiểm soát ở Liên Xô và Đông Âu; khủng hoảng tài chính của các nhà nước phúc lợi tại các nước công nghiệp phát triển; sự phát triển kinh tế nhanh chóng tại khu vực Đông Á và Đông Nam Á; cùng các cuộc xung đột chính trị - xã hội đặt ra yêu cầu nhận thức lại vai trò của nhà nước trong việc thúc đẩy phát triển bền vững.
- Bối cảnh trong nước: Thuật ngữ "Nhà nước kiến tạo phát triển" được người đứng đầu Chính phủ Việt Nam đề cập lần đầu vào năm 2011, được tiếp tục khẳng định năm 2014 và trở thành trọng tâm chỉ đạo điều hành của nhiệm kỳ Chính phủ giai đoạn 2016 - 2021. Tại phiên họp Chính phủ tháng 4/2016 và phiên chất vấn Quốc hội ngày 18/11/2017, Thủ tướng Chính phủ nhấn mạnh mục tiêu chuyển đổi từ mô hình "Chính phủ quản lý, điều hành" bằng mệnh lệnh hành chính sang "Chính phủ kiến tạo phát triển", chủ động thiết kế thể chế, chính sách và pháp luật để thúc đẩy đất nước phát triển.
- Khoảng trống nghiên cứu: Mặc dù mô hình nhà nước kiến tạo phát triển (Developmental State) đã được nghiên cứu rộng rãi trên thế giới qua trường hợp các nền kinh tế Đông Á, việc xác lập một khung lý thuyết có hệ thống dựa trên góc độ Chính trị học và Kinh tế Chính trị học Thể chế, đồng thời kiểm nghiệm khả năng ứng dụng trong điều kiện thể chế chính trị đặc thù của Việt Nam (thể chế một đảng duy nhất cầm quyền, xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa) vẫn còn là khoảng trống học thuật cần được luận giải tường minh.
Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu của luận án:
- Mục tiêu tổng quát: Xây dựng khung lý thuyết về nhà nước kiến tạo phát triển; trên cơ sở đó xác định các tính chất, điều kiện cần thiết, các rào cản và triển vọng thực tiễn của việc xây dựng nhà nước kiến tạo phát triển ở Việt Nam hiện nay.
- Câu hỏi nghiên cứu:
- Nhà nước kiến tạo phát triển là gì - Nguồn gốc, sự phát triển, bản chất và nội hàm của khái niệm? Đây có phải là một kiểu nhà nước hay một loại hình nhà nước mới trong lịch sử phát triển của các thể chế nhà nước? Các mô hình nhà nước kiến tạo phát triển trong thực tiễn? Các tính chất, các yêu cầu, điều kiện cần thiết của một nhà nước kiến tạo phát triển là gì?
- Đối với Việt Nam, trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, liệu mô hình nhà nước kiến tạo phát triển có còn phù hợp hay có thể áp dụng? Nếu có, những đặc điểm, tính đặc thù cũng như những thời cơ, thách thức, những rào cản và triển vọng thực tiễn về một nhà nước kiến tạo phát triển ở Việt Nam là gì? Cần làm gì để xây dựng nhà nước kiến tạo phát triển ở nước ta hiện nay?
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Các chính sách, biện pháp, hành động mang tính chủ động định hướng, kiến tạo phát triển của nhà nước đối với thị trường và xã hội.
- Phạm vi nội dung: Khung lý thuyết về nhà nước kiến tạo phát triển; khảo cứu nội dung, yêu cầu, đặc điểm và khả năng vận dụng qua tổng kết thực tiễn ở Việt Nam và nghiên cứu trường hợp cụ thể của thành phố Đà Nẵng (có đối chiếu với một số địa phương khác).
- Phạm vi không gian và thời gian: Tài liệu, công trình khoa học quốc tế về nhà nước kiến tạo phát triển ở một số nước (Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan...); thực tiễn hoạt động của bộ máy nhà nước Việt Nam trong thời kỳ Đổi mới và thực tiễn chính quyền thành phố Đà Nẵng giai đoạn 1997 - 2018.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án tiến hành tổng quan có hệ thống các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước, chia thành hai nhóm nội dung chính:
| Nhóm công trình |
Tác giả, tổ chức |
Công trình, ấn phẩm tiêu biểu |
Luận điểm chính được điểm lại |
| 1. Nhà nước và vai trò của nhà nước đối với sự phát triển |
Ngân hàng Thế giới (World Bank) |
World Development Report 1997: The State in a Changing World (1997) |
Phủ định quan điểm cực đoan về "nhà nước tối thiểu"; khẳng định sự phát triển đòi hỏi nhà nước đóng vai trò xúc tác, bổ khuyết thị trường và kiểm soát tham nhũng. |
|
Ha-Joon Chang & Robert Rowthorn |
The Role of the State in Economic Change (1995) |
Phân tích sự can thiệp của nhà nước vào thay đổi kinh tế; đề xuất kết hợp hợp lý giữa nhà nước và thị trường tùy điều kiện cụ thể. |
|
Ha-Joon Chang |
Globalization, Economic Development and the Role of the State (2002) |
Sử dụng phương pháp tiếp cận thể chế để chứng minh sự cần thiết của chính sách công nghiệp, thương mại và quyền sở hữu trí tuệ. |
|
Daron Acemoglu & James A. Robinson |
The Origins of Power, Prosperity, and Poverty - Why Nations Fail (2012) |
Phân biệt thể chế kinh tế dung hợp (inclusive) phân chia quyền lực rộng rãi và thể chế kinh tế chiếm đoạt (extractive) thâu tóm lợi ích. |
|
Dan Senor & Saul Singer |
Start-up Nation: The Story of Israel's Economic Miracle (2009) |
Vai trò định hướng của chính phủ Israel đồng hành, chia sẻ rủi ro cùng khu vực tư nhân trong công nghệ và nông nghiệp sạch. |
|
David Held |
Models of Democracy (2006) |
Đề xuất khái niệm tự trị dân chủ (democratic autonomy), khẳng định sự bình đẳng chính trị và tham gia tranh luận công khai. |
|
Farrukh Iqbal & Jong-Il You |
Dân chủ, kinh tế thị trường và phát triển: Từ góc nhìn châu Á (2001) |
Dân chủ và kinh tế thị trường là "hai bánh xe của một cỗ xe ngựa", song hành để hạn chế sự cấu kết thân hữu giữa chính phủ và tài phiệt. |
|
Amartya Sen |
Development as Freedom (1999) |
Dân chủ tạo động cơ chính trị cho quản trị tốt, ngăn ngừa nạn đói và khủng hoảng kinh tế. |
|
WB & Bộ Kế hoạch và Đầu tư |
Báo cáo Việt Nam 2035 (2016) |
Chương 7 về xây dựng thể chế hiện đại, chuyển vai trò nhà nước từ can thiệp sâu sang điều tiết, hỗ trợ. |
|
Các tác giả Việt Nam: Nguyễn Đăng Dung, Nguyễn Duy Mạnh, Võ Thị Hoa, Trần Thị Huyền |
Sách, đề tài khoa học cấp Nhà nước (2010), luận án tiến sĩ |
Trách nhiệm giải trình của nhà nước, quản lý phát triển xã hội, thực hiện công bằng xã hội và sự biến đổi vai trò nhà nước trong toàn cầu hóa. |
| 2. Mô hình nhà nước kiến tạo phát triển (Developmental State) |
Chalmers Johnson |
MITI and the Japanese Miracle (1982); The Developmental State: Odyssey of a Concept (1999) |
Đưa ra thuật ngữ và 4 đặc trưng thể chế cốt lõi của nhà nước kiến tạo phát triển thông qua phân tích vai trò của Bộ Công nghiệp và Thương mại quốc tế Nhật Bản (MITI). |
|
Alice Amsden |
Asia's Next Giant: South Korea and Late Industrialization (1989) |
Kinh tế vi mô của nhà nước kiến tạo Hàn Quốc; áp dụng tiêu chuẩn thực hiện nghiêm ngặt đối với các doanh nghiệp được hỗ trợ. |
|
Robert Wade |
Governing the Market: Economic Theory and the Role of Government in East Asian Industrialization (1990) |
Sự dẫn dắt thị trường tại Đài Loan; vai trò của chính sách công nghiệp vừa phải trong nâng cao chuỗi giá trị. |
|
Meredith Woo-Cumings (Jung-en Woo) |
Race to the Swift: State and Finance in Korean Industrialization (1991) |
Kiểm soát tài chính và lạm phát trong công nghiệp hóa ở Hàn Quốc. |
|
Yu-Shan Wu |
Comparative Economic Transformations (1994) |
Phân biệt lý thuyết nhà nước kiến tạo phát triển TBCN với kinh tế mệnh lệnh Xô viết và CNXH thị trường. |
|
Peter Meyns & Charity Musamba |
The Developmental State in Africa (2010) |
5 luận điểm lý thuyết chính và phân tích mô hình nhà nước kiến tạo phát triển dân chủ tại Botswana. |
|
Aniya Kumar Bagchi |
The Developmental State in History and in the Twentieth Century (2000) |
Nhà nước kiến tạo trong lịch sử (Anh, Đức, Nhật, Hà Lan, Liên Xô, Trung Quốc trước 1980); vai trò của trật tự pháp luật và giáo dục. |
|
Ziya Onis, Manuel Castells, Andrzej Bolesta |
Các bài báo khoa học trên các tạp chí quốc tế |
Phân tích logic nhà nước kiến tạo, mô hình 4 con hổ châu Á, và nhận định Trung Quốc như một nhà nước kiến tạo phát triển. |
|
Tác giả Việt Nam: Vũ Minh Khương (2009), Phạm Hưng Hùng (2009) |
Các bài viết trên tuần báo chuyên ngành |
3 yếu tố then chốt (nhu cầu xã hội, an ninh quốc gia, khan hiếm tài nguyên); các rào cản tham nhũng và nguy cơ "tư bản thân hữu". |
Khoảng trống nghiên cứu được luận án lựa chọn giải quyết:
Qua khảo cứu tài liệu, luận án nhận thấy các mô hình Đông Á cổ điển thường gắn với bối cảnh nhà nước độc đoán, tập trung quyền lực và xã hội công dân yếu. Mô hình này không còn phù hợp với bối cảnh mở rộng dân chủ, phát triển kinh tế tri thức và hội nhập quốc tế hiện nay. Mặt khác, các nghiên cứu trong nước trước đó mới dừng lại ở việc giới thiệu khái niệm hoặc bàn luận chung về quyết tâm chính trị, chưa xây dựng được khung phân tích hoàn chỉnh kết hợp giữa Kinh tế Chính trị học Thể chế và Chính trị học Mác - Lênin để áp dụng cho thể chế chính trị một đảng cầm quyền tại Việt Nam, cũng như chưa có công trình nào kiểm nghiệm thực nghiệm sâu sắc thông qua phương pháp nghiên cứu trường hợp cụ thể ở cấp độ địa phương (như thành phố Đà Nẵng giai đoạn 1997 - 2018). Luận án giải quyết trực tiếp khoảng trống này.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết, phương pháp luận và khung phân tích
- Phương pháp luận nền tảng: Luận án dựa trên phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, cùng các quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
- Khung lý thuyết tiếp cận: Luận án tiếp cận lý thuyết nhà nước kiến tạo phát triển dựa trên cơ sở Kinh tế Chính trị học Thể chế (Institutional Political Economy), thay thế cho cách tiếp cận của Kinh tế học Tân tự do (Neo-liberal Economics).
- Hệ khái niệm trung tâm: Khái niệm "Nhà nước kiến tạo phát triển" (Developmental State do Chalmers Johnson khởi xướng), khái niệm thể chế dung hợp (Inclusive institutions theo Acemoglu & Robinson), khái niệm nhà nước linh hoạt (Flexible developmental state) và nhà nước kiến tạo phát triển dân chủ (Democratic developmental state).
Phương pháp nghiên cứu thực tế
Luận án sử dụng hướng tiếp cận định tính liên ngành Chính trị học, kết hợp các phương pháp cụ thể:
- Phương pháp thu thập dữ liệu và khảo cứu tài liệu: Phân tích văn kiện, nghị quyết của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, các báo cáo tổng kết kinh tế - xã hội của trung ương và thành phố Đà Nẵng, cùng các tài liệu học thuật quốc tế.
- Phương pháp lôgic - lịch sử: Hệ thống hóa quá trình hình thành và phát triển của khái niệm nhà nước kiến tạo phát triển trên thế giới từ năm 1925 đến nay.
- Phương pháp quy nạp - diễn dịch: Suy luận logic từ các dữ kiện thực tiễn ở Đông Á, phương Tây và Việt Nam để khái quát hóa thành các tiêu chí lý thuyết.
- Phương pháp so sánh: So sánh mô hình nhà nước kiến tạo phát triển với nhà nước điều tiết (regulatory state), nhà nước phúc lợi (welfare state), nhà nước kế hoạch hóa tập trung truyền thống; so sánh các chính sách phát triển giữa các quốc gia Đông Á; so sánh thực tiễn Đà Nẵng với một số tỉnh, thành phố khác tại Việt Nam.
- Phương pháp nghiên cứu trường hợp (Case study): Khảo sát sâu thành phố Đà Nẵng từ năm 1997 (thời điểm trở thành thành phố trực thuộc Trung ương) đến năm 2018 nhằm phát hiện các biểu hiện thực tế của quản trị kiến tạo, các thành công và những vấn đề vướng mắc nảy sinh.
Nguồn tư liệu và dữ liệu
- Các văn kiện của Đảng Cộng sản Việt Nam và các nghị quyết của Quốc hội, Chính phủ.
- Báo cáo của các tổ chức quốc tế: Ngân hàng Thế giới (WB), Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP), Ủy ban Kinh tế Châu Phi của Liên Hợp Quốc (UNECA).
- Báo cáo chỉ số quản trị và kinh tế tại Việt Nam: Chỉ số Năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI), Chỉ số Hiệu quả Quản trị và Hành chính công cấp tỉnh (PAPI), Chỉ số sẵn sàng cho phát triển và ứng dụng công nghệ thông tin (ICT Index), Chỉ số cảm nhận tham nhũng (CPI), Tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP).
- Hồ sơ, tài liệu quản lý, báo cáo tổng kết thực tiễn của Thành ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân thành phố Đà Nẵng giai đoạn 1997 - 2018.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Chương 1 hệ thống hóa và phân tích hai dòng nghiên cứu lớn trong và ngoài nước: các công trình về vai trò của nhà nước trong nền kinh tế thị trường và các công trình về mô hình nhà nước kiến tạo phát triển.
Nội dung chương khẳng định tính tất yếu của việc chuyển dịch nhận thức từ nhà nước can thiệp bao cấp sang nhà nước kiến tạo. Tác giả đánh giá sự thành công của các nước Đông Á trước đây nhờ vào việc thực thi chính sách công nghiệp có chọn lọc, nhưng cũng chỉ rõ những mặt trái của mô hình độc đoán truyền thống (như chủ nghĩa tư bản thân hữu, tham nhũng, thiếu tính bền vững).
Chương 1 xác định các vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu: làm rõ nội hàm nhà nước kiến tạo phát triển trong điều kiện xây dựng thể chế chính trị dân chủ xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam; phân tích bài học thất bại từ các tập đoàn nhà nước "quả đấm thép" (như Vinashin, Vinalines) để rút ra yêu cầu về tính độc lập, chuyên nghiệp của bộ máy công quyền và cơ chế kiểm soát quyền lực.
Chương 2: Nhà nước kiến tạo phát triển - Lý luận và thực tiễn trên thế giới
Chương 2 trình bày có hệ thống nguồn gốc, bản chất, điều kiện và các mô hình thực tiễn của nhà nước kiến tạo phát triển trên thế giới:
- Nguồn gốc và điều kiện xuất hiện: Thuật ngữ do Chalmers Johnson đưa ra năm 1982 qua nghiên cứu Bộ Công nghiệp và Thương mại quốc tế Nhật Bản (MITI). Hai điều kiện lịch sử cốt lõi làm xuất hiện mô hình này là: (1) Sức ép từ quá trình công nghiệp hóa muộn đòi hỏi phải tìm kiếm con đường phát triển rút ngắn; (2) Sự trỗi dậy của ý thức hệ phát triển và chủ nghĩa dân tộc, tạo ra tính chính đáng chính trị cho sự can thiệp của nhà nước.
- Bản chất loại hình: Luận án khẳng định nhà nước kiến tạo phát triển không phải là một kiểu nhà nước mới trong lịch sử thể chế, mà là mô hình kết hợp có chọn lọc giữa nhà nước điều tiết tư bản chủ nghĩa (tôn trọng nguyên tắc thị trường, quyền tự do kinh doanh) và nhà nước kế hoạch hóa truyền thống (chủ động định hướng, dẫn dắt bằng quy hoạch, kế hoạch hợp lý - planned-rational system). Nhà nước kiến tạo can thiệp sâu hơn nhà nước điều tiết nhưng không làm thay thị trường như nhà nước chỉ huy XHCN truyền thống.
- Bốn đặc trưng thể chế cốt lõi (theo Johnson):
- Bộ máy hành chính tinh gọn, thực tài, được tuyển chọn theo chế độ trọng dụng nhân tài, có đủ năng lực lựa chọn ngành công nghiệp chiến lược và tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh.
- Hệ thống chính trị hoạt động hiệu quả, trong đó các cơ quan lập pháp và tư pháp đóng vai trò như các "van an toàn" kiểm soát quyền lực.
- Có cơ quan điều phối chiến lược quốc gia (như MITI) với quy mô nhỏ, có chức năng như một trung tâm tư vấn chính sách (think-tank) độc lập, đủ thẩm quyền, không bị lợi ích nhóm thao túng.
- Phương pháp can thiệp thích ứng với thị trường, chủ yếu sử dụng công cụ tài chính, tiền tệ, thuế và các hướng dẫn hành chính mang tính định hướng thay vì áp đặt luật lệ chi tiết làm triệt tiêu tính sáng tạo.
+-----------------------------------------------------------------------------------+
| MÔ HÌNH NHÀ NƯỚC KIẾN TẠO PHÁT TRIỂN |
| (Mô hình kinh tế tư bản có kế hoạch hợp lý / Planned-rational system) |
+-----------------------------------------------------------------------------------+
| 1. Bộ máy hành chính tinh gọn, thực tài, tự chủ, không bị nhóm lợi ích thao túng |
| 2. Cơ quan điều phối chiến lược trung tâm (Think-tank quy mô nhỏ, đủ thẩm quyền) |
| 3. Can thiệp chủ động nhưng tuân thủ và vận hành theo nguyên tắc thị trường |
| 4. Hệ thống chính trị ổn định, lập pháp và tư pháp giữ vai trò "van an toàn" |
+-----------------------------------------------------------------------------------+
Chương 3: Xây dựng nhà nước kiến tạo phát triển ở Việt Nam - Thực trạng và những nhận định bước đầu
Chương 3 phân tích thực trạng chuyển đổi vai trò nhà nước tại Việt Nam trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN và khảo sát chuyên sâu trường hợp thành phố Đà Nẵng giai đoạn 1997 - 2018:
- Vai trò nhà nước ở Việt Nam: Phân tích quá trình chuyển đổi từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung, quan liêu, bao cấp và cơ chế "xin - cho" sang vai trò tạo lập môi trường kinh doanh bình đẳng, hỗ trợ doanh nghiệp và hội nhập kinh tế quốc tế.
- Nghiên cứu điển hình thành phố Đà Nẵng (1997 - 2018): Luận án làm rõ các biểu hiện của mô hình chính quyền địa phương mang tính kiến tạo phát triển:
- Xây dựng tầm nhìn quy hoạch đô thị và tư duy phát triển nhất quán, quyết liệt, hợp lòng dân;
- Vận dụng linh hoạt các cơ chế, chính sách đặc thù nhằm khai thác tối đa nguồn lực đất đai, phát triển hạ tầng kỹ thuật, du lịch và công nghệ thông tin;
- Cải cách hành chính toàn diện, xây dựng chính quyền phục vụ, công khai, minh bạch, duy trì nhiều năm liền vị trí dẫn đầu cả nước về các chỉ số PCI, PAPI và ICT Index;
- Triển khai chính sách thu hút và trọng dụng nhân tài, nâng cao chất lượng đội ngũ công chức;
- Thực thi các chính sách an sinh xã hội đặc thù mang lại lợi ích cho cộng đồng (các chương trình "Thành phố 5 không", "Thành phố 3 có", "Thành phố 4 an": an ninh trật tự, an toàn giao thông, an toàn vệ sinh thực phẩm, an sinh xã hội).
- Các hạn chế tại Đà Nẵng: Luận án cũng chỉ ra những vướng mắc phát sinh trong thực tiễn như sai phạm trong quản lý đất đai, nguồn thu ngân sách phụ thuộc nhiều vào khai thác quỹ đất thiếu tính bền vững, một số can thiệp hành chính vượt thẩm quyền quy định chung.
- Nhận định bước đầu: Khẳng định tính tất yếu của việc chuyển đổi phương thức chỉ đạo điều hành sang kiến tạo phát triển ở quy mô toàn quốc, đồng thời nhấn mạnh việc khắc phục các hạn chế từ mô hình cũ.
Chương 4: Nhận diện những rào cản và triển vọng thực tiễn của nhà nước kiến tạo phát triển ở Việt Nam
Chương 4 nhận diện toàn diện các điểm nghẽn thể chế và đề xuất các giải pháp khả thi:
- Những rào cản chủ yếu:
- Quán tính tư duy quản lý hành chính mệnh lệnh, tàn dư của cơ chế xin - cho và sự can thiệp trực tiếp, sâu quá mức vào hoạt động sản xuất kinh doanh;
- Nguy cơ thao túng chính sách từ các nhóm lợi ích, hiện tượng tham nhũng, chủ nghĩa tư bản thân hữu (crony capitalism);
- Năng lực đội ngũ cán bộ, công chức chưa đáp ứng yêu cầu chuyên nghiệp; thiếu một cơ quan điều phối chiến lược quốc gia thực sự tinh gọn và có thẩm quyền;
- Hệ thống thể chế, chính sách, pháp luật còn chồng chéo, thiếu minh bạch và thiếu tính ổn định dài hạn;
- Thách thức từ các cam kết quốc tế khi tham gia các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, làm thu hẹp không gian chính sách can thiệp truyền thống.
- Một số vấn đề cần giải quyết để hiện thực hóa mô hình:
- Đổi mới mạnh mẽ tư duy lý luận và nhận thức về vai trò của nhà nước: chuyển từ "quản lý" sang "kiến tạo và phục vụ";
- Hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường đồng bộ, bảo đảm cạnh tranh bình đẳng, bảo hộ quyền sở hữu và quyền tự do kinh doanh;
- Cải cách bộ máy hành chính nhà nước, thực hiện chế độ công vụ thực tài, liêm chính;
- Nghiên cứu thành lập cơ quan hoạch định và điều phối chiến lược phát triển quốc gia;
- Tăng cường cơ chế kiểm soát quyền lực, phòng chống tham nhũng, thực hiện trách nhiệm giải trình và công khai minh bạch.
Kết quả và những đóng góp mới
Luận án tự xác định các đóng góp mới về mặt khoa học lý luận và thực tiễn:
Về mặt lý luận
- Xác lập hệ tiêu chí của nhà nước kiến tạo phát triển dựa trên Kinh tế Chính trị học Thể chế: Luận án hệ thống hóa và luận giải 5 tiêu chí/yêu cầu điều kiện cơ bản:
- Nhà nước chủ động định hướng, can thiệp nhưng phải phù hợp với các nguyên tắc cạnh tranh của thị trường;
- Có ý chí chính trị và tầm nhìn phát triển nhất quán, xuyên suốt với các chiến lược, chính sách ưu tiên đặc thù;
- Xây dựng bộ máy quản lý hành chính chuyên nghiệp, hiệu quả, tự chủ, đủ năng lực, có mối liên kết mật thiết với khu vực tư nhân nhưng không bị thao túng bởi các nhóm lợi ích;
- Quản lý xã hội hiệu quả, công bằng, có năng lực thích ứng linh hoạt trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế;
- Tính chủ động định hướng của nhà nước được xây dựng trên nền tảng Kinh tế Chính trị học Thể chế thay vì Kinh tế học Tân tự do.
- Làm rõ bản chất thể chế: Khẳng định nhà nước kiến tạo phát triển không phải kiểu nhà nước mới mà là mô hình kết hợp giữa nhà nước điều tiết và nhà nước có kế hoạch hợp lý (planned-rational), có khả năng thích ứng trong hệ thống chính trị một đảng cầm quyền tại Việt Nam.
Về mặt thực tiễn
- Tổng kết thực tiễn thành phố Đà Nẵng (1997 - 2018): Luận giải mô hình quản trị địa phương mang tính kiến tạo trên 6 phương diện: (1) Tầm nhìn và tư duy phát triển nhất quán, hợp lòng dân; (2) Vận dụng sáng tạo cơ chế đặc thù; (3) Vận hành hệ thống chính trị theo hướng công khai, minh bạch, phục vụ; (4) Xây dựng đội ngũ công chức chuyên nghiệp, thu hút nhân tài; (5) Tập trung nguồn lực cho các ngành kinh tế trọng tâm; (6) Bảo đảm an sinh xã hội và phân phối công bằng lợi ích cộng đồng.
- Nhận diện nguyên nhân thành công, hạn chế và đề xuất khuyến nghị: Chỉ ra các bài học kinh nghiệm, nhận diện các rào cản thể chế (tư duy xin - cho, lợi ích nhóm, hạn chế về năng lực cán bộ) và đề xuất các định hướng chính sách, thể chế nhằm hiện thực hóa mục tiêu xây dựng Chính phủ kiến tạo phát triển tại Việt Nam.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế của luận án: Khảo sát thực nghiệm chuyên sâu tập trung chủ yếu vào trường hợp một địa phương cụ thể là thành phố Đà Nẵng và so sánh bước đầu với một số tỉnh thành, chưa thể bao quát thực tiễn đa dạng của toàn bộ 63 tỉnh, thành phố trên cả nước; phạm vi tư liệu thực tế của đề tài giới hạn trong giai đoạn từ năm 1997 đến năm 2018.
- Hướng nghiên cứu tiếp theo: Mở rộng phạm vi nghiên cứu thực nghiệm sang các vùng kinh tế trọng điểm khác; nghiên cứu sâu hơn về mô hình tổ chức, thẩm quyền và cơ chế vận hành của cơ quan điều phối chiến lược quốc gia (think-tank) phù hợp với cơ cấu tổ chức bộ máy nhà nước Việt Nam; hoàn thiện cơ chế pháp lý kiểm soát xung đột lợi ích và ngăn chặn chủ nghĩa tư bản thân hữu trong quá trình kiến tạo phát triển.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị học thuật và ứng dụng thực tiễn:
- Đối với công tác đào tạo, nghiên cứu: Cung cấp khung lý thuyết có hệ thống và tài liệu tham khảo chuyên sâu phục vụ nghiên cứu, giảng dạy chuyên ngành Chính trị học, Kinh tế chính trị, Quản lý công, Xây dựng Đảng và Chính quyền nhà nước tại các học viện, trường đại học.
- Đối với các cơ quan quản lý và hoạch định chính sách: Cung cấp luận cứ khoa học và các bài học kinh nghiệm thực tiễn giúp các nhà hoạch định chính sách ở Trung ương và chính quyền địa phương tham khảo trong quá trình cải cách hành chính, đổi mới phương thức quản trị công và xây dựng bộ máy hành chính phục vụ, liêm chính, kiến tạo phát triển.
Câu hỏi thường gặp
1. Khái niệm "Nhà nước kiến tạo phát triển" có nguồn gốc từ đâu và do ai khởi xướng?
Khái niệm "Nhà nước kiến tạo phát triển" (Developmental State) do học giả Chalmers Johnson đưa ra lần đầu tiên vào năm 1982 trong công trình nghiên cứu nổi tiếng "MITI and the Japanese Miracle - The Growth of Industrial Policy, 1925 - 1975", nhằm mô tả vai trò can thiệp chủ động, định hướng chính sách công nghiệp của Chính phủ Nhật Bản (đặc biệt là Bộ Công nghiệp và Thương mại quốc tế - MITI) trong giai đoạn tăng trưởng kinh tế nhanh chóng sau Chiến tranh thế giới thứ hai.
2. Điểm khác biệt căn bản giữa Nhà nước kiến tạo phát triển và Nhà nước điều tiết phương Tây là gì?
Nhà nước điều tiết (Regulatory State) dựa trên chủ nghĩa tự do cổ điển và tân tự do, coi thị trường là trung tâm và chỉ can thiệp thụ động khi có "thất bại thị trường" (market failure). Ngược lại, Nhà nước kiến tạo phát triển chủ động định hướng thị trường, xây dựng tầm nhìn chiến lược dài hạn, tập trung huy động các nguồn lực quốc gia và áp dụng các chính sách ưu đãi đặc thù cho các ngành công nghiệp mũi nhọn để tạo ra lợi thế cạnh tranh quốc gia, nhưng vẫn vận hành dựa trên các nguyên tắc cạnh tranh của thị trường.
3. Tại sao luận án lại lựa chọn thành phố Đà Nẵng làm trường hợp nghiên cứu điển hình?
Thành phố Đà Nẵng giai đoạn 1997 - 2018 là địa phương thể hiện rõ nét các đặc trưng của mô hình quản trị kiến tạo ở cấp địa phương tại Việt Nam: có tầm nhìn quy hoạch đô thị nhất quán; dám vận dụng các cơ chế đặc thù; cải cách hành chính mạnh mẽ (nhiều năm đứng đầu các chỉ số PCI, PAPI, ICT Index); thu hút nhân tài; và thực hiện tốt các chính sách an sinh xã hội ("5 không", "3 có", "4 an"), đồng thời bộc lộ những bài học thực tiễn về kiểm soát quản lý đất đai và nguồn thu ngân sách.
4. Khung lý thuyết của luận án dựa trên trường phái kinh tế nào để thay thế Kinh tế học Tân tự do?
Luận án tiếp cận mô hình nhà nước kiến tạo phát triển dựa trên cơ sở lý luận của Kinh tế Chính trị học Thể chế (Institutional Political Economy). Trường phái này nhấn mạnh vai trò của cấu trúc thể chế, ý chí chính trị, năng lực bộ máy hành chính và sự phối hợp giữa nhà nước với khu vực tư nhân trong việc định hình sự phát triển kinh tế.
5. Những rào cản lớn nhất trong việc xây dựng nhà nước kiến tạo phát triển ở Việt Nam hiện nay là gì?
Luận án chỉ ra các rào cản chính gồm: quán tính tư duy mệnh lệnh hành chính và cơ chế "xin - cho"; nguy cơ thao túng chính sách từ các nhóm lợi ích và tham nhũng (chủ nghĩa tư bản thân hữu); chất lượng đội ngũ công chức chưa đồng đều; thiếu một cơ quan điều phối chiến lược quốc gia đủ mạnh; và hệ thống thể chế pháp luật còn chồng chéo, chưa thực sự ổn định.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Mai Thị Hồng Liên đã xây dựng thành công khung lý thuyết về nhà nước kiến tạo phát triển tiếp cận dưới góc độ Chính trị học và Kinh tế Chính trị học Thể chế trong bối cảnh thể chế chính trị Việt Nam. Thông qua việc phân tích kinh nghiệm quốc tế và khảo cứu chuyên sâu trường hợp thực tiễn tại thành phố Đà Nẵng giai đoạn 1997 - 2018, công trình đã làm sáng tỏ khả năng hiện thực hóa mô hình quản trị kiến tạo tại nước ta. Luận án nhận diện rõ các điểm nghẽn thể chế, quán tính bao cấp và nguy cơ lợi ích nhóm, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường, tinh gọn bộ máy và xây dựng nền công vụ thực tài, liêm chính nhằm phục vụ mục tiêu phát triển bền vững của quốc gia.