Luận văn: Phát triển kinh tế tư nhân ở Bình Dương hội nhập KTQT

Phát triển kinh tế tư nhân ở Bình Dương: Động lực tăng trưởng, cơ hội đầu tư. Tìm hiểu chính sách hỗ trợ, tiềm năng và thách thức của khu vực kinh tế năng động này.

Trường đại học

Đại học quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Kinh tế chính trị

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2015

119
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Vai trò kinh tế tư nhân ở Bình Dương trong bối cảnh hội nhập

Trong tiến trình đổi mới và hội nhập kinh tế quốc tế, khu vực kinh tế tư nhân ở Bình Dương đã khẳng định vai trò là một động lực tăng trưởng cốt lõi, đóng góp quan trọng vào sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Từ sau khi Luật Doanh nghiệp có hiệu lực, thành phần kinh tế này đã có những bước phát triển vượt bậc, trở thành một bộ phận cấu thành không thể thiếu của nền kinh tế địa phương. Sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế tư nhân không chỉ thể hiện qua số lượng doanh nghiệp gia tăng mà còn ở sự đa dạng hóa ngành nghề, lĩnh vực hoạt động. Các doanh nghiệp dân doanh ngày càng tham gia sâu rộng vào các chuỗi giá trị, từ sản xuất công nghiệp, thương mại-dịch vụ đến xây dựng và bất động sản. Luận văn của tác giả Trần Tố Uyên (2015) đã chỉ rõ, kinh tế tư nhân góp phần quan trọng vào việc huy động các nguồn lực xã hội, đặc biệt là vốn đầu tư trong dân, tạo ra hàng trăm nghìn việc làm, và thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Sự năng động và linh hoạt của khu vực này giúp Bình Dương thích ứng nhanh với những biến động của thị trường, nâng cao năng lực cạnh tranh và khai thác hiệu quả các tiềm năng, lợi thế của tỉnh. Đây là nền tảng vững chắc để Bình Dương tiếp tục thu hút đầu tư, mở rộng thị trường và hội nhập sâu hơn vào nền kinh tế khu vực và toàn cầu.

1.1. Quá trình hình thành và phát triển của doanh nghiệp tư nhân

Lịch sử phát triển kinh tế tư nhân ở Bình Dương gắn liền với đường lối đổi mới của đất nước, đặc biệt là từ khi Luật Doanh nghiệp năm 2000 ra đời. Đây được xem là cú hích pháp lý quan trọng, tạo ra một hành lang thông thoáng cho sự ra đời và phát triển của các doanh nghiệp dân doanh (DNDD). Trước đó, các đơn vị kinh tế tư nhân chủ yếu tồn tại dưới hình thức hộ kinh doanh cá thể, tiểu chủ với quy mô nhỏ. Tuy nhiên, với chính sách khuyến khích của tỉnh và sự cởi mở của pháp luật, số lượng doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần đã tăng trưởng theo cấp số nhân. Các doanh nghiệp này ban đầu tập trung vào các lĩnh vực thương mại, dịch vụ, sản xuất hàng tiêu dùng, nhưng dần dần đã mở rộng sang các ngành công nghiệp chế biến, xây dựng, và các lĩnh vực đòi hỏi công nghệ cao hơn. Sự phát triển này không chỉ dừng lại ở số lượng mà còn cải thiện về chất lượng, với quy mô vốn và lao động ngày càng lớn mạnh.

1.2. Vị thế chiến lược trong cơ cấu kinh tế chung của tỉnh

Kinh tế tư nhân đã nhanh chóng khẳng định vị thế trụ cột trong nền kinh tế Bình Dương. Theo số liệu trong giai đoạn 2009-2013, khu vực kinh tế ngoài nhà nước, mà nòng cốt là kinh tế tư nhân, luôn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng sản phẩm của tỉnh (GDP). Cụ thể, Bảng 3.6 trong luận văn gốc cho thấy sự đóng góp ngày càng tăng của khu vực này vào cơ cấu kinh tế. Sự trỗi dậy của kinh tế tư nhân đã góp phần làm thay đổi diện mạo kinh tế, giảm sự phụ thuộc vào khu vực kinh tế nhà nước và vốn đầu tư nước ngoài. Hơn nữa, các doanh nghiệp tư nhân còn là nhân tố quan trọng trong việc tạo ra một môi trường cạnh tranh lành mạnh, thúc đẩy các thành phần kinh tế khác phải liên tục đổi mới để nâng cao hiệu quả. Vai trò này đặc biệt quan trọng trong bối cảnh Bình Dương là một tỉnh công nghiệp phát triển, cần sự đa dạng hóa các nguồn lực để duy trì đà tăng trưởng bền vững.

II. Thách thức cho kinh tế tư nhân Bình Dương khi hội nhập WTO

Mặc dù đạt được những thành tựu ấn tượng, quá trình phát triển của kinh tế tư nhân ở Bình Dương vẫn đối mặt với nhiều thách thức và hạn chế cố hữu, đặc biệt trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng. Việc gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) đã mở ra nhiều cơ hội nhưng cũng đặt ra những áp lực cạnh tranh vô cùng khốc liệt. Theo phân tích trong luận văn của Trần Tố Uyên, nhiều doanh nghiệp dân doanh của tỉnh vẫn còn bộc lộ những điểm yếu mang tính hệ thống. Các hạn chế này không chỉ đến từ nội tại doanh nghiệp như quy mô nhỏ, công nghệ lạc hậu, năng lực quản trị yếu kém, mà còn xuất phát từ những rào cản bên ngoài như môi trường kinh doanh chưa thực sự minh bạch, khó khăn trong việc tiếp cận các nguồn lực quan trọng. Nếu không có những giải pháp khắc phục kịp thời, khu vực kinh tế tư nhân sẽ khó có thể tận dụng hết các cơ hội từ hội nhập và có nguy cơ thua ngay trên sân nhà trước các đối thủ cạnh tranh quốc tế có tiềm lực mạnh hơn về tài chính, công nghệ và kinh nghiệm thị trường.

2.1. Hạn chế về quy mô vốn và trình độ công nghệ sản xuất

Đa số các doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân ở Bình Dương có quy mô nhỏ và vừa (DNNVV). Điều này dẫn đến nhiều hạn chế cố hữu. Thứ nhất, tiềm lực về vốn mỏng khiến khả năng đầu tư vào công nghệ hiện đại, mở rộng sản xuất và xây dựng thương hiệu bị giới hạn. Nhiều doanh nghiệp vẫn sử dụng công nghệ lạc hậu, tiêu hao nhiều năng lượng và hiệu quả thấp. Thứ hai, quy mô nhỏ làm giảm khả năng cạnh tranh về giá và khó tham gia vào các đơn hàng lớn, đặc biệt là các hợp đồng xuất khẩu. Nghiên cứu chỉ ra rằng việc tích lũy tư bản của khu vực này còn chậm, phần lớn doanh nghiệp thiếu vốn để đầu tư chiều sâu. Tình trạng này tạo ra một vòng luẩn quẩn: quy mô nhỏ dẫn đến khó tiếp cận vốn, và thiếu vốn lại cản trở việc mở rộng quy mô, ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển bền vững.

2.2. Năng lực cạnh tranh và rào cản từ môi trường kinh doanh

Năng lực cạnh tranh của nhiều doanh nghiệp tư nhân còn yếu. Điều này thể hiện ở trình độ quản lý còn mang tính gia đình, thiếu chuyên nghiệp; kiến thức về luật pháp quốc tế và kinh nghiệm thương trường hạn chế. Khi hội nhập, các doanh nghiệp phải đối mặt với hàng rào kỹ thuật, tiêu chuẩn chất lượng khắt khe từ các thị trường nhập khẩu. Bên cạnh đó, môi trường kinh doanh dù đã được cải thiện nhưng vẫn còn những rào cản nhất định. Các thủ tục hành chính đôi khi còn phức tạp, chính sách chưa đủ nhất quán, gây khó khăn cho doanh nghiệp. Việc tiếp cận đất đai, tín dụng ngân hàng vẫn là một bài toán khó đối với nhiều DNNVV. Những yếu tố này làm giảm sức cạnh tranh và kìm hãm tiềm năng phát triển của toàn bộ khu vực kinh tế tư nhân.

III. Giải pháp đột phá cải thiện môi trường kinh doanh cho KTTN

Để khu vực kinh tế tư nhân ở Bình Dương phát triển tương xứng với tiềm năng và vượt qua thách thức của hội nhập, việc tạo lập một môi trường kinh doanh thuận lợi, minh bạch và bình đẳng là yêu cầu cấp thiết. Các giải pháp không chỉ tập trung vào việc tháo gỡ các rào cản hiện hữu mà còn phải mang tính chiến lược, dài hạn, hướng đến việc xây dựng một hệ sinh thái hỗ trợ doanh nghiệp phát triển bền vững. Luận văn của Trần Tố Uyên đã đề xuất một hệ thống các giải pháp đồng bộ, trong đó nhấn mạnh vai trò kiến tạo của chính quyền địa phương. Việc cải cách thể chế, đơn giản hóa thủ tục hành chính, và đảm bảo sự công bằng trong tiếp cận nguồn lực là những trụ cột chính. Một môi trường pháp lý ổn định, các chính sách hỗ trợ thực chất sẽ là nền tảng để các doanh nghiệp dân doanh yên tâm đầu tư, mở rộng sản xuất kinh doanh và nâng cao năng lực cạnh tranh. Đây là điều kiện tiên quyết để huy động mọi nguồn lực xã hội vào công cuộc phát triển chung của tỉnh, biến kinh tế tư nhân thực sự trở thành một động lực mạnh mẽ trong giai đoạn mới.

3.1. Đổi mới chính sách tạo sự bình đẳng giữa các thành phần kinh tế

Một trong những giải pháp then chốt là phải tiếp tục đổi mới và hoàn thiện hệ thống chính sách hỗ trợ kinh tế tư nhân. Điều này đòi hỏi phải xóa bỏ hoàn toàn mọi rào cản và sự phân biệt đối xử giữa doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và doanh nghiệp tư nhân. Cần đảm bảo sự bình đẳng trong việc tiếp cận các nguồn lực quan trọng như đất đai, vốn tín dụng, thông tin thị trường và các đơn hàng từ ngân sách nhà nước. Chính quyền tỉnh cần rà soát, loại bỏ các thủ tục hành chính không cần thiết, công khai, minh bạch các quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội để doanh nghiệp có định hướng đầu tư rõ ràng. Việc xây dựng một sân chơi bình đẳng sẽ kích thích cạnh tranh lành mạnh, buộc tất cả các doanh nghiệp phải nâng cao hiệu quả hoạt động để tồn tại và phát triển.

3.2. Tăng cường khả năng tiếp cận vốn tín dụng và mặt bằng sản xuất

Vốn và mặt bằng sản xuất là hai yếu tố đầu vào sống còn đối với doanh nghiệp. Để giải quyết vấn đề này, tỉnh Bình Dương cần có những cơ chế, chính sách cụ thể nhằm tạo điều kiện cho các doanh nghiệp dân doanh, đặc biệt là DNNVV, dễ dàng tiếp cận nguồn vốn tín dụng từ các ngân hàng thương mại. Điều này có thể thực hiện thông qua việc thành lập các quỹ bảo lãnh tín dụng, đơn giản hóa thủ tục vay vốn và phát triển các sản phẩm tài chính phù hợp. Về đất đai, cần quy hoạch các khu, cụm công nghiệp dành riêng cho DNNVV với giá thuê hợp lý và cơ sở hạ tầng đồng bộ. Minh bạch hóa quy hoạch sử dụng đất và rút ngắn thời gian giải quyết các thủ tục liên quan đến đất đai sẽ giúp doanh nghiệp giảm chi phí đầu vào và sớm ổn định sản xuất.

IV. Phương pháp nâng cao năng lực nội tại kinh tế tư nhân Bình Dương

Bên cạnh các yếu tố từ môi trường vĩ mô, việc nâng cao năng lực nội tại của chính các doanh nghiệp là yếu tố quyết định sự thành bại trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu. Sự phát triển của kinh tế tư nhân ở Bình Dương không thể chỉ dựa vào số lượng mà phải đi vào chiều sâu, tập trung vào chất lượng và hiệu quả. Các giải pháp cần hướng đến việc củng cố nền tảng bên trong của doanh nghiệp, từ con người đến quy trình quản lý và chiến lược kinh doanh. Tác giả Trần Tố Uyên nhấn mạnh tầm quan trọng của việc phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao và nâng cao trình độ quản trị doanh nghiệp. Đồng thời, việc tăng cường liên kết, hợp tác giữa các doanh nghiệp thông qua vai trò của các hiệp hội là con đường hiệu quả để tạo ra sức mạnh tổng hợp. Khi nội lực được củng cố, các doanh nghiệp dân doanh mới có đủ sức để đối mặt với thách thức, nắm bắt cơ hội và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu, đóng góp thiết thực cho nền kinh tế tỉnh nhà.

4.1. Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao cho doanh nghiệp

Nguồn nhân lực là tài sản quý giá nhất của mỗi doanh nghiệp. Tuy nhiên, thực trạng cho thấy cả đội ngũ quản lý và người lao động trong nhiều doanh nghiệp tư nhân tại Bình Dương còn hạn chế về trình độ chuyên môn và kỹ năng. Do đó, cần có chiến lược đào tạo và phát triển nguồn nhân lực bài bản. Tỉnh cần phối hợp với các trường đại học, cao đẳng, trường dạy nghề để xây dựng các chương trình đào tạo sát với nhu cầu thực tế của doanh nghiệp. Đồng thời, cần khuyến khích các chủ doanh nghiệp tham gia các khóa học về quản trị hiện đại, marketing, luật kinh doanh quốc tế. Việc đầu tư vào con người không chỉ giúp nâng cao năng suất lao động mà còn là chìa khóa để doanh nghiệp đổi mới sáng tạo và thích ứng với sự thay đổi nhanh chóng của công nghệ và thị trường.

4.2. Phát huy vai trò của các hiệp hội trong việc liên kết doanh nghiệp

Trong bối cảnh phần lớn doanh nghiệp tư nhân có quy mô nhỏ, sự liên kết, hợp tác là yếu tố sống còn để nâng cao năng lực cạnh tranh. Vai trò của các hiệp hội doanh nghiệp cần được phát huy mạnh mẽ hơn nữa. Các hiệp hội không chỉ là nơi bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho doanh nghiệp mà còn phải là cầu nối hiệu quả, thúc đẩy hợp tác kinh doanh, chia sẻ thông tin, kinh nghiệm và công nghệ. Tỉnh cần tạo điều kiện để các hiệp hội hoạt động thực chất, tổ chức các diễn đàn đối thoại giữa chính quyền và doanh nghiệp, cung cấp các dịch vụ tư vấn, hỗ trợ pháp lý và xúc tiến thương mại. Thông qua liên kết, các doanh nghiệp nhỏ có thể cùng nhau tạo ra chuỗi cung ứng, thực hiện các đơn hàng lớn, xây dựng thương hiệu chung và giảm thiểu rủi ro khi vươn ra thị trường quốc tế.

V. Tác động của kinh tế tư nhân Bình Dương đến kinh tế xã hội

Những đóng góp của khu vực kinh tế tư nhân ở Bình Dương vào sự phát triển chung của tỉnh là không thể phủ nhận và được thể hiện rõ nét qua các chỉ số kinh tế - xã hội. Khu vực này không chỉ là động lực chính cho tăng trưởng GDP mà còn đóng vai trò tiên phong trong việc tạo việc làm, nâng cao thu nhập cho người lao động và thúc đẩy quá trình đô thị hóa. Sự phát triển của hàng nghìn doanh nghiệp dân doanh đã tạo ra một sức sống mới cho nền kinh tế, làm đa dạng hóa các sản phẩm, dịch vụ và đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu của xã hội. Theo phân tích từ luận văn gốc, tác động của kinh tế tư nhân lan tỏa trên nhiều phương diện. Về kinh tế, khu vực này góp phần quan trọng vào việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ. Về xã hội, kinh tế tư nhân là kênh giải quyết việc làm hiệu quả nhất, góp phần đảm bảo an sinh xã hội và giảm nghèo bền vững. Những kết quả này minh chứng cho tính đúng đắn của chính sách phát triển kinh tế nhiều thành phần và khẳng định vai trò chiến lược của kinh tế tư nhân.

5.1. Đóng góp vào tăng trưởng GDP và chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Số liệu thống kê trong giai đoạn nghiên cứu cho thấy, khu vực kinh tế ngoài nhà nước (chủ yếu là tư nhân) luôn có tốc độ tăng trưởng cao và đóng góp một tỷ trọng ngày càng lớn vào tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh (GDP). Sự năng động trong đầu tư và sản xuất kinh doanh của kinh tế tư nhân là động lực chính thúc đẩy tăng trưởng kinh tế chung của Bình Dương. Bên cạnh đó, khu vực này còn đóng vai trò then chốt trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Bằng việc đầu tư mạnh mẽ vào các ngành công nghiệp chế biến, chế tạo và các lĩnh vực dịch vụ chất lượng cao, các doanh nghiệp tư nhân đã góp phần giảm tỷ trọng nông nghiệp, tăng tỷ trọng công nghiệp - xây dựng và dịch vụ, phù hợp với định hướng phát triển của một tỉnh công nghiệp hàng đầu cả nước.

5.2. Hiệu quả trong giải quyết việc làm và nâng cao thu nhập người dân

Một trong những đóng góp xã hội lớn nhất của kinh tế tư nhân ở Bình Dương là khả năng tạo ra việc làm. Với số lượng doanh nghiệp đông đảo và hoạt động trên nhiều lĩnh vực, khu vực này đã thu hút hàng trăm nghìn lao động, không chỉ tại địa phương mà còn từ các tỉnh thành khác. Điều này góp phần quan trọng vào việc giảm tỷ lệ thất nghiệp và đảm bảo an sinh xã hội. So với các thành phần kinh tế khác, các doanh nghiệp nhỏ và vừa có khả năng tạo việc làm nhanh chóng với chi phí đầu tư thấp hơn. Việc tạo ra nhiều việc làm ổn định cũng đồng nghĩa với việc nâng cao thu nhập và cải thiện mức sống cho người lao động và gia đình họ, góp phần vào mục tiêu xóa đói giảm nghèo và xây dựng xã hội phát triển hài hòa.

VI. Định hướng phát triển kinh tế tư nhân ở Bình Dương tương lai

Để duy trì vai trò động lực và tiếp tục đóng góp vào sự thịnh vượng chung, việc phát triển kinh tế tư nhân ở Bình Dương trong tương lai cần có một tầm nhìn chiến lược và những bước đi cụ thể. Định hướng chung là phát triển cả về số lượng và chất lượng, khuyến khích sự hình thành các doanh nghiệp có quy mô lớn, năng lực cạnh tranh cao và có khả năng dẫn dắt thị trường. Bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng đòi hỏi các doanh nghiệp dân doanh phải chủ động đổi mới, sáng tạo và vươn lên chiếm lĩnh những công đoạn có giá trị gia tăng cao trong chuỗi giá trị toàn cầu. Chính quyền tỉnh Bình Dương cần tiếp tục vai trò kiến tạo, xây dựng một hệ sinh thái khởi nghiệp năng động và một môi trường kinh doanh thuộc nhóm tốt nhất cả nước. Mục tiêu không chỉ là phát triển kinh tế tư nhân đơn thuần, mà là xây dựng một cộng đồng doanh nghiệp tư nhân vững mạnh, có trách nhiệm xã hội, và là niềm tự hào của địa phương trên con đường phát triển bền vững.

6.1. Xây dựng các tập đoàn kinh tế tư nhân lớn có thương hiệu mạnh

Trong giai đoạn tới, Bình Dương cần có chính sách khuyến khích đặc biệt để thúc đẩy sự hình thành các doanh nghiệp, tập đoàn kinh tế tư nhân có quy mô lớn, đủ sức cạnh tranh trên thị trường khu vực và quốc tế. Thay vì phát triển dàn trải, cần tập trung hỗ trợ các doanh nghiệp có tiềm năng trong các ngành công nghiệp chủ lực, công nghệ cao và dịch vụ chất lượng cao. Việc xây dựng các thương hiệu mạnh, mang tầm quốc gia và quốc tế, sẽ giúp nâng cao giá trị sản phẩm và vị thế của kinh tế Bình Dương. Nhà nước có thể hỗ trợ thông qua các chính sách ưu đãi về thuế, đất đai, và tạo điều kiện cho các doanh nghiệp này tiếp cận các dự án lớn, tham gia vào quá trình mua lại, sáp nhập để tăng quy mô và năng lực.

6.2. Tăng cường hội nhập sâu rộng vào chuỗi giá trị toàn cầu

Mục tiêu cuối cùng của hội nhập kinh tế quốc tế là tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu. Các doanh nghiệp dân doanh Bình Dương cần chuyển dần từ mô hình gia công, lắp ráp sang các mô hình sản xuất có hàm lượng công nghệ và chất xám cao hơn. Định hướng này đòi hỏi doanh nghiệp phải đầu tư mạnh mẽ vào nghiên cứu và phát triển (R&D), thiết kế sản phẩm và xây dựng thương hiệu. Tỉnh cần hỗ trợ doanh nghiệp kết nối với các tập đoàn đa quốc gia, tìm kiếm thị trường mới, và nắm bắt các tiêu chuẩn quốc tế. Việc chủ động tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu không chỉ mang lại lợi nhuận cao hơn mà còn giúp doanh nghiệp học hỏi kinh nghiệm quản lý, tiếp cận công nghệ tiên tiến và phát triển một cách bền vững trong dài hạn.

26/09/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần mở đầu, mục lục, kết luận, tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn đƣợc trình bày theo 4 chƣơng. Chƣơng 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và những vấn đề cơ bản về phát triển kinh tế tƣ nhân trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế Chƣơng 2: Phƣơng pháp và thiết kế nghiên cứu. Chƣơng 3: Thực trạng của kinh tế tƣ nhân tỉnh Bình Dƣơng trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế Chƣơng 4: Phƣơng hƣớng và giải pháp để kinh tế tƣ nhân hội nhập và phát triển ở tỉnh Bình Dƣơng 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƢ NHÂN TRONG QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài 1.

Vấn đề kinh tế tư nhân 1. Cuốn sách: “ Thành phần kinh tế cá thể, tiểu chủ và tƣ bản tƣ nhân – Lý luận và chính sách” (2002, NXB CTQ) do PGS, TS Hà Huy Thành chủ biên đã đi sâu phân tích thực trạng phát triển khu vực KTTN ở nƣớc ta trong thời kì đổi mới (theo ngành nghề và phân theo vùng lãnh thổ) nêu lên những kết quả đạt đƣợc, những tồn tại, yếu kém, nguyên nhân chủ yếu và khuyến nghị những chính sách, giải pháp nhằm thúc đẩy phát triển khu vực KTTN. Các giải pháp chủ yếu đó là: - Hoàn thiện môi trƣờng pháp lý, trong đó sớm ban hành Luật Doanh nghiệp chung cho mọi khu vực kinh tế, điều chỉnh sự hoạt động của các pháp nhân kinh tế không phụ thuộc vào hình thức sở hữu; - Các chính sách khuyến khích tƣ nhân đầu tƣ vào các ngành nghề thúc đẩy nền kinh tế phát triển theo hƣớng công nghiệp hóa, hiện đại hóa; - Thiết lập các chế định hỗ trợ phát triển KTTN , nhƣ thành lập quỹ hỗ trợ DNNVV, hình thành ngân hàng đầu tƣ phát triển các DNNVV, thiết lập hiệp hội các DNNVV, trung tâm đào tạo cán bộ quản lý của các DNNVV… 2. Cuốn: “ KTTN và quản lý nhà nƣớc đối với KTTN ở nƣớc ta hiện nay” (2003, NXB CTQG) do GS, TS Hồ Văn Vĩnh chủ biên.

Trong cuốn sách này tác giả không chỉ phân tích thực trạng hoạt động của khu vực KTTN, mà còn phân tích thực trạng quản lý nhà nƣớc đối với khu vực KTTN. Trên cơ sở đó, tác giả đã đƣa ra khuyến nghị phƣơng hƣớng và giải pháp tiếp tục đổi mới quản lý nhà nƣớc đối với khu vực kinh tế tƣ nhân ở nƣớc ta. Cụ thể là: - Định hƣớng chiến lƣợc phát triển KTTN + Đối với kinh tế cá thể, tiểu chủ tập trung vào một số ngành nghề sử dụng tiềm năng về vốn, sức lao động, tay nghề của từng gia đình, đặc biệt hƣớng vào phát triển sản xuất và chế biến nông lâm thủy sản. 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com + Đối với kinh tế tƣ bản tƣ nhân, cần khuyến khích phát triển sản xuất – kinh doanh trong tất cả các ngành nông nghiệp, công nghiệp, xây dựng, dịch vụ kể kể hoạt động xuất nhập khẩu và thu hút đầu tƣ nƣớc ngoài và đầu tƣ kinh doanh ra nƣớc ngoài.

- Tiếp tục đổi mới pháp luật và các chính sách phát triển KTTN + Về pháp luật: tiếp tục đổi mới pháp luật, tạo cơ sở pháp lý minh bạch, thông thoáng để KTTN hoạt động nhƣ thống nhất hóa Luật Doanh nghiệp với Luật Doanh nghiệp Nhà nƣớc và Luật Đầu tƣ nƣớc ngoài với Luật Đầu tƣ trong nƣớc. + Về chính sách: Tiếp tục hoàn thiện các chính sách ruộng đất, chính sách đầu tƣ, chính sách thuế, chính sách vốn và tín dụng ngân hàng, chính sách khoa học và công nghệ, chính sách thƣơng mại và giá cả, chính sách lao động việc làm và đào tạo nguồn nhân lực - Tăng cƣờng chức năng tổ chức của hệ thống quản lý nhà nƣớc về kinh tế đối với KTTN + Tổ chức các doanh nghiệp thuộc KTTN đó là cơ chế, chính sách để mọi ngƣời ra kinh doanh công khai và hợp pháp khắc phục tình trạng kinh doanh ngầm, trốn tránh pháp luật; + Thành lập các tổ chức đại diện, tổ chức hỗ trợ đối với các doanh nghiệp thuộc khu vực KTTN + Phát triển các hình thức hợp tác trong khu vực KTTN + Kiện toàn bộ máy quản lý nhà nƣớc đối với KTTN cụ thể là: thực hiện tốt việc phân công, phân cấp trong việc quản lý khu vực KTTN, quy định rõ chức năng, quyền hạn, trách nhiệm và mối quan hệ quản lý, tránh chồng chéo, lấn sân nhau hoặc bỏ trống trận địa giữa các cơ quan chức năng quản lý nhà nƣớc về kinh tế, đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính; tăng cƣờng kiểm tra, thanh tra, giám sát hoạt động sản xuất kinh doanh của khu vực KTTN. Cuốn sách “ KTTN Việt Nam sau hai thập kỷ đổi mới thực trạng và những vấn đề đặt ra” (2005, NXB Khoa học xã hội) của tác giả Đinh Thị Thơm. Đây là công trình thu thập và hệ thống các bài viết phân tích, đánh giá, kiến nghị và những 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com giải pháp đúc kết trong những công trình, bài viết của 9 nhà nghiên cứu về những vấn đề lý luận, thực tiễn phát triển và hạn chế cũng nhƣ triển vọng phát triển của khu vực KTTN.

Công trình đề cập đến các nội dung sau: - KTTN Việt Nam sau hai thập niên đổi mới, tiến triển và những hạn chế - Các thành phần kinh tế ở Việt Nam, chính sách và thực tiễn thời kì đổi mới - Những dự báo và chính sách sử dụng kinh tế tƣ bản tƣ nhân theo định hƣớng XHCN. Cuốn sách: “ Sự vận động, phát triển của KTTN trong nền kinh tế thị trƣờng định hƣớng XHCN” (2006, NXB CTQG) của tác giả Vũ Quốc Tuấn đã đi sâu phân tích cơ sở lý luận và thực tiễn trình bày quá trình tìm tòi, thử nghiệm, đột phá, đấu tranh tƣ tƣởng và tổng kết sự phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần ở Việt Nam, trong đó KTTN là bộ phận quan trọng. Đồng thời phân tích, nhận dạng và dự báo xu hƣớng phát triển KTTN, đề xuất một số chính sách, giải pháp phát triển KTTN trong giai đoạn mới. Cuốn sách: “ Sở hữu tƣ nhân và KTTN trong nền kinh tế thị trƣờng định hƣớng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam” (2006, NXB CTQG) của GS, TS Nguyễn Thanh Tuyền là kết quả của công trình nghiên cứu đề tài khoa học cấp nhà nƣớc KX.

Trong cuốn sách này tác giả đã đề cập đến cơ sở lý luận và thực tiễn, bản chất, vai trò và vị trí của KTTN nói chung cũng nhƣ trong nền kinh tế thị trƣờng định hƣớng xã hội chủ nghĩa nói riêng, thực trạng phát triển KTTN ở nƣớc ta. Nội dung của công trình đề cập đến các vấn đề sau: - Thứ nhất, nêu rõ luận cứ khoa học về tính tất yếu khách quan và sự phát triển lâu dài của sở hữu tƣ nhân và KTTN ở Việt Nam,làm rõ KTTN thực sự là một bộ phận cấu thành của kinh tế xã hội chủ nghĩa, vai trò, vị trí của KTTN trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội, mối quan hệ giữa vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nƣớc với vai trò của KTTN trong nền kinh tế thị trƣờng định hƣớng XHCN; vấn đề đảng viên làm kinh tế tƣ nhân, lợi ích kinh tế - xã hội mà nó mang lại; quan niệm mới về “bóc lột” giá trị thặng dƣ trong điều kiện kinh tế thị trƣờng ở Việt Nam. - Thứ hai, đề xuất 8 chính sách đổi mới có tính hệ thống và đồng bộ về phát triển KTTN trong cơ chế thị trƣởng ở Việt Nam. Các chính sách này đƣợc xoay 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com quanh tiêu điểm là bảo đảm sự phát triển lâu dài, bình đẳng, công nhận quyền lợi hợp pháp và không hạn chế đối với KTTN trong các lĩnh vực, nhằm hƣớng KTTN đóng góp tích cực vào công cuộc xây dựng CNXH ở Việt Nam, thích ứng với quá trình phát triển kinh tế trong tiến trình hội nhập kinh tế toàn cầu.

- Thứ ba, dự báo về phƣơng hƣớng xã hội hóa sở hữu tƣ nhân và KTTN trong phát triển kinh tế thị trƣờng định hƣớng XHCN, trong đó phác họa bƣớc đi, hình thức, phƣơng pháp xã hội hóa trên cơ sở tuân thủ một cách linh hoạt quy luật quan hệ sản xuất phải phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lƣợng sản xuất trong từng giai đoạn. Nhƣ vậy, các công trình nghiên cứu đều thừa nhận KTTN là khu vực cung cấp khối lƣợng sản phẩm lớn nhất cho xã hội. Sự tồn tại nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, trong đó có KTTN là tất yếu bắt nguồn từ quy luật về sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất với tình chất và trình độ phát triển của lực lƣợng sản xuất. Đây là khu vực kinh tế năng động và có khả năng thích ứng nhanh nhạy với những đặc trƣng của nền kinh tế thị trƣờng, có tiềm năng lớn trong việc nâng cao năng lực nội sinh của đất nƣớc, tăng trƣởng kinh tế.

Các tác giả cũng nhất trí với quan điểm phát triển KTTN là có lợi cho CNXH và đƣợc coi là điều kiện không thể thiếu để xây dựng thành công nền kinh tế thị trƣờng định hƣớng xã hội chủ nghĩa. Vấn đề kinh tế tư nhân với quá trình hội nhập kinh tế quốc tế Toàn cầu hóa và hội nhập KTQT ngày nay đã trở thành xu thế bao trùm, chi phối các mối quan hệ kinh tế và qua đó chị phối sự phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia. Một quốc gia tham gia hội nhập KTQT thì tất yếu chịu sự tác động của quá trình này, khu vực KTTN là bộ phận của nền kinh tế cũng không nằm ngoài xu thế đó. Liên quan đến vấn đề này cũng có nhiều bài viết, công trình nghiên cứu nhƣ: 1.

Cuốn sách: “ KTTN trong tiến trình hội nhập” (năm 2003, NXB Khoa học xã hội) của Viện thông tin khoa học xã hội, giới thiệu những nét khái quát về khu vực kinh tế nhạy cảm này qua những công trình nghiên cứu của nhiều chuyên gia quốc tế. Trƣớc hết, đó là sự thay đổi trong nhận thức về phát triển KTTN cũng những nội hàm của nó, những yếu tố tạo nên sự khác biệt giữa chế độ tƣ bản chủ 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nghĩa và chế độ XHCN trong suốt nhiều thập kỷ qua.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ