Chương 1: Tổng quan tài liệu nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu - Chương 2: Thực trạng phát triển kinh tế hộ và những tác động đến môi trường sinh thái khu vực nông thôn huyện Định Hóa. - Chương 3: Những giải pháp chủ yếu nhằm phát triển kinh tế hộ và bảo vệ môi trường khu vực nông thôn huyện Định Hóa. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 5 Chƣơng 1 TÔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1. Cơ sở khoa học của phát triển kinh tế hộ và môi trƣờng khu vực nông thôn 1.
Quan điểm về phát triển, phát triển kinh tế, phát triển bền vững - Theo các nhà kinh tế học: Phát triển không chỉ bao gồm tăng trưởng kinh tế mà còn phải bao gồm cả thu hẹp sự bất bình đẳng, xoá bỏ đói nghèo, cải cách cơ cấu xã hội và thể chế quốc gia để đảm bảo quyền lợi của đa số dân cư tham gia hoạt động chính trị – kinh tế – xã hội, nâng cao phúc lợi xã hội và trình độ văn hoá của đa số nông dân. Trọng tâm phát triển là sự phát triển con người, tức là đảm bảo đời sống con người, tôn trọng con người, tạo mọi điều kiện để hộ tham gia hoạt động về các mặt văn hoá - kinh tế - chính trị - xã hội. [2] - Phát triển bền vững theo Ngân hàng Thế giới (WB) là sự phát triển nhằm thoả mãn những nhu cầu hiện tại mà không ảnh hưởng đến khả năng thế hệ tương lai trong việc tự đáp ứng nhu cầu của họ. Hội nghị thượng đỉnh Thế giới: Phát triển bền vững là quá trình phát triển có sự kết hợp chặt chẽ, hợp lý, hài hòa giữa 3 mặt của sự phát triển, bao gồm: tăng trưởng kinh tế, cải thiện các vấn đề xã hội và bảo vệ môi trường.
- Phát triển kinh tế được hiểu là quá trình tăng tiến về mọi mặt của nền kinh tế. Mục tiêu cuối cùng của phát triển kinh tế là xóa bỏ đói nghèo, suy dinh dưỡng, sự tăng lên của tuổi thọ bình quân,… - Đảng cộng sản Việt Nam thể hiện quan điểm trong Chiến lược phát triển kinh tế xã hội của đất nước đến năm 2010: “Phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững. Tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường”.[3] Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www. Quan điểm về phát triển kinh tế khu vực nông thôn trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa Nông thôn là vùng đất đai rộng với một cộng đồng dân cư chủ yếu làm nông nghiệp (nông, lâm, ngư nghiệp), có mật độ dân cư thấp, cơ sở hạ tầng kém phát triển, có trình độ văn hóa, khoa học kỹ thuật, trình độ sản xuất hàng hóa thấp và thu nhập mức sống của dân cư thấp hơn đô thị.
[4] Trong công cuộc phát triển đất nước, chúng ta chủ trương tăng trưởng kinh tế gắn với nâng cao phúc lợi, giảm đói nghèo và bảo đảm công bằng xã hội. Tuy vậy, tăng trưởng kinh tế chỉ là điều kiện cần để nâng cao đời sống của dân và giảm số hộ đói nghèo, điều quan trọng là những thành quả của tăng trưởng được phân phối như thế nào để tránh tình trạng thiếu công bằng, tạo điều kiện cho một số người giàu lên, còn đa số người khác vẫn sống trong nghèo khổ, chênh lệch giàu - nghèo gia tăng. Đối với nông thôn, nông dân là khu vực thụ hưởng ít nhất kết quả của đổi mới, đang còn nhiều khó khăn và là bộ phận bị thiệt thòi nhất khi nước ta gia nhập WTO, thì nhiệm vụ phát triển nông thôn bền vững được đặt ra lại càng cấp bách. Về kinh tế, đó là phát triển nông nghiệp theo hướng thâm canh, tăng năng suất lao động và năng suất ruộng đất, tạo ra những vùng chuyên canh gắn với công nghiệp chế biến để nâng cao giá trị sản phẩm nông nghiệp, tăng thu nhập cho nông dân.
Đó cũng là quá trình phát triển thêm nhiều ngành nghề, làng nghề, các loại hình doanh nghiệp sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp cùng với các tổ chức hoạt động dịch vụ ở nông thôn Về văn hóa, đó là phát triển và mở rộng các hình thức nâng cao trình độ văn hóa, kỹ năng lao động cho nông dân, để họ tiếp cận với yêu cầu mới của sản xuất, kinh doanh. Quan trọng hơn nữa là giáo dục nghề nghiệp cho những nông dân vùng bị thu hồi đất. Các thiết chế văn hóa ở nông thôn cần được củng cố và phát triển; điều quan trọng là bảo tồn và phát huy những giá trị Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 7 văn hóa truyền thống, những làng nghề truyền thống của từng vùng. Cần tổ chức những sinh hoạt văn hóa, phát huy truyền thống dòng họ, làng xã; mặt khác, nâng cao trình độ thẩm mỹ của cư dân nông thôn, khắc phục tình trạng xâm nhập của thị hiếu văn hóa không lành mạnh.
Về xã hội, đó là giải quyết việc làm, yêu cầu cấp thiết hiện nay ở khu vực nông thôn. Cùng với quá trình công nghiệp hóa, lao động nông nghiệp sẽ giảm cả về cơ cấu và số lượng (dự kiến năm 2010, lao động nông nghiệp chỉ còn chiếm dưới 50% lao động xã hội so với hiện nay là khoảng 70%). Vì vậy, giải quyết việc làm cho nông dân không chỉ là yêu cầu cấp bách để tận dụng lao động nông thôn lúc nông nhàn, tăng thu nhập cho họ, mà cấp bách hơn nữa là ở những vùng đất bị thu hồi, tránh tình trạng số người này ồ ạt chuyển vào thành phố, gây ra nhiều vấn đề xã hội rất khó giải quyết. Những việc nói trên đòi hỏi sự quan tâm đặc biệt của Nhà nước với tinh thần coi sự phát triển bền vững của nông thôn là nền tảng của sự phát triển bền vững của cả nước.
Nông dân là nhân vật trung tâm, để nông thôn và nông dân tận dụng và phát huy hết nguồn lực của họ trong công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. - Phát triển kinh tế nông thôn nhất thiết phải đạt được hiệu quả kinh tế – xã hội và môi trường. Hiệu quả kinh tế đòi hỏi phải sản xuất ngày càng nhiều nông sản phẩm và sản phẩm hàng hóa với giá thành hạ, chất lượng sản phẩm và năng suất lao động cao, tích lũy và tái sản xuất mở rộng không ngừng. Hiệu quả xã hội đòi hỏi đời sống của người dân nông thôn không ngừng được nâng cao, lao động có việc làm với thu nhập ngày càng tăng, thực hiện xóa đói giảm nghèo.
Hiệu quả môi trường đòi hỏi môi trường sinh thái ngày càng được cải thiện. - Phát triển nông thôn với kinh tế nhiều thành phần theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước. Việc hình thành và phát triển các yếu tố Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 8 thị trường nông sản phẩm, thị trường đất đai, vật tư, vốn, sức lao động, khoa học, công nghệ, dịch vụ,… ở nông thôn là hết sức quan trọng. - Phát triển nông thôn một cách toàn diện có tính đến lợi thế so sánh của các vùng khác nhau.
- Phát triển nông thôn theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng giảm tỷ trọng nông nghiệp, tăng tỷ trọng các ngành công nghiệp và dịch vụ. Phát triển công nghiệp chế biến nông sản để nâng cao giá trị nông sản phẩm, nông sản hàng hóa và xuất khẩu. Phát triển nông nghiệp kết hợp phát triển lâm nghiệp, giảm bớt tính chất độc canh, phát triển cây công nghiệp, đặc biệt các loại cây trồng vật nuôi mang tính chất đặc sản của vùng (lúa, chè) 1.
Hộ nông dân và kinh tế hộ nông dân Hộ nông dân là đối tượng nghiên cứu chủ yếu của khoa học nông nghiệp và phát triển nông thôn, vì tất cả các hoạt động nông nghiệp, phi nông nghiệp ở nông thôn chủ yếu được thực hiện qua các hoạt động của hộ nông dân. Hộ nông dân là những hộ chủ yếu hoạt động nông nghiệp theo nghĩa rộng bao gồm cả nông nghiệp, nghề rừng, nghề biển và hoạt động phi nông nghiệp ở nông thôn. Trong các hoạt động phi nông nghiệp khó phân biệt các hoạt động có liên quan tới nông nghiệp và không liên quan tới nông nghiệp. Khái niệm hộ nông dân gần đây được định nghĩa như sau: "Nông dân là các nông hộ thu hoạch các phương tiện sống từ ruộng đất, sử dụng chủ yếu lao động gia đình trong sản xuất nông trại, nằm trong một hệ thống kinh tế rộng hơn, nhưng về cơ bản được đặc trưng bằng việc tham gia một phần trong thị trường hoạt động với một trình độ hoàn chỉnh không cao" (Ellis - 1988).
Hộ nông dân có những đặc điểm sau - Hộ nông dân là một đơn vị kinh tế cơ sở vừa là một đơn vị sản xuất vừa là một đơn vị tiêu dùng. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 9 - Quan hệ giữa tiêu dùng và sản xuất biểu hiện ở trình độ phát triển của hộ tự cấp, tự túc. Nó quyết định quan hệ giữa hộ nông dân và thị trường. - Các hộ nông dân ngoài hoạt động nông nghiệp còn tham gia vào hoạt động phi nông nghiệp với các mức độ rất khác nhau.
- Hộ nông dân chỉ có thu nhập chung từ tất cả hoạt động kinh tế của gia đình là giá trị sản lượng hàng năm trừ đi chi phí. Mục tiêu của hộ nông dân là có thu nhập cao không kể thu nhập ấy do nguồn gốc nào, trồng trọt, chăn nuôi, ngành nghề, đó là kết quả chung của lao động gia đình. - Giá trị sản lượng chung của hộ gia đình trừ đi chi phí sẽ là giá trị sản lượng thuần mà gia đình sử dụng cho tiêu dùng, đầu tư tái sản xuất và tích luỹ. Người nông dân không tính giá trị tiền công lao động đã sử dụng, mà chỉ lấy mục tiêu là có thu nhập thuần cao.
Bởi vậy, muốn có thu nhập cao hơn thì các hộ nông dân phải tăng thời gian lao động của gia đình. Mỗi hộ nông dân cố gắng đạt được một thu nhập thoả mãn nhu cầu thiết yếu bằng cách tạo một sự cân bằng giữa mức độ thoả mãn nhu cầu của gia đình với mức độ nặng nhọc của lao động. Sự cân bằng này thay đổi theo thời gian, theo quy luật sinh học do tỷ lệ giữa người tiêu dùng và người lao động quyết định.