Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG NGHIỆP VÀ NHỮNG YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN PHÁT TRIỂN KINH TẾ CÔNG NGHIỆP TỈNH PHÚ YÊN 1.1 Cơ sở lý luận về công nghiệp Khái niệm chung về công nghiệp Công nghiệp là một ngành kinh tế thuộc lĩnh vực sản xuất vật chất trong hệ thống kinh tế quốc dân. Công nghiệp bao gồm ba loại hoạt động chủ yếu: Thứ nhất là khai thác các loại tài nguyên thiên nhiên (công nghiệp khai thác) đến việc chế biến các loại khoáng sản và nông, lâm, thủy sản (công nghiệp chế biến). Thứ hai là công nghiệp sản xuất tất cả các loại tư liệu lao động (máy móc, thiết bị, dụng cụ), nhiều loại đối tượng lao động (nguyên, nhiên vật liệu, năng lượng) và vật phẩm tiêu dùng đáp ứng các nhu cầu của sản xuất và đời sống. Thứ ba, công nghiệp còn thực hiện việc sửa chữa một số loại tư liệu sản xuất và vật phẩm tiêu dùng (dịch vụ mang tính chất công nghiệp).274] Quá trình hình thành và phát triển của công nghiệp trong lịch sử Sự ra đời và phát triển của công nghiệp gắn liền với sự phát triển của tiến bộ kỹ thuật và phân công lao động xã hội.
Trong thời kỳ đầu của xã hội loài người, đã có một số hoạt động mang tính chất công nghiệp, sản xuất các loại sản phẩm đáp ứng nhu cầu sản xuất (công cụ sản xuất), đời sống (vật phẩm tiêu dùng) và chiến đấu (vũ khí). Những loại hoạt động sản xuất này tồn tại trong khuôn khổ nền kinh tế tự cấp với trình độ hết sức thấp kém: sản xuất sản phẩm ra không phải là hàng hóa, chủ yếu để đáp ứng nhu cầu của chính người sản xuất và cộng đồng của họ. Đến phân công lao động lớn lần thứ hai, một số người sản xuất được chuyên môn hóa vào các hoạt động sản xuất mang tính chất công nghiệp và trở thành những 10 người thợ thủ công chuyên nghiệp. Sản phẩm của họ là hàng hóa – sản xuất để trao đổi mua bán trên thị trường.
Đó là hình thức sơ khai, manh nha đầu tiên của nền đại công nghiệp hiện đại ngày nay. Với các nước tư bản đi đầu thực hiện công nghiệp hóa (vào thế kỷ XVII – XVIII), nền công nghiệp lớn hiện đại ngày nay của họ được phát triển qua ba giai đoạn: hợp tác giản đơn, công trường thủ công và đại công nghiệp cơ khí. Các giai đoạn này vừa phát triển theo kiểu tuần tự từ thấp đến cao, vừa phát triển theo kiểu nhảy vọt. Các giai đoạn phát triển của công nghiệp không chỉ khác nhau về trình độ kỹ thuật của sản xuất và phân công lao động, mà còn khác nhau về trình độ khai thác lợi thế, trình độ phát triển sản xuất hàng hóa và trình độ quản lý.
Cơ cấu ngành công nghiệp Ngày nay, công nghiệp đã trở thành một ngành sản xuất vật chất lớn nhất của xã hội và có cơ cấu hết sức phức tạp. Dựa vào những tiêu chí khác nhau, người ta chia nền công nghiệp thành những bộ phận khác nhau. Dưới đây là một số cách phân chia phổ biến thường gặp trong thực tế. Căn cứ vào tính chất tác động đến đối tượng lao động, công nghiệp được chia thành công nghiệp khai thác và công nghiệp chế biến.
Sự phân chia này được sử dụng để kế hoạch hóa quan hệ cân đối giữa công nghiệp khai thác tài nguyên và công nghiệp chế biến loại tài nguyên ấy. Trong giai đoạn đầu của quá trình công nghiệp hóa ở các nước đang phát triển, sản phẩm của công nghiệp khai thác tạo nguồn hàng xuất khẩu quan trọng để thu ngoại tệ, phục vụ phát triển kinh tế-xã hội của đất nước. Căn cứ vào công dụng kinh tế của sản phẩm, công nghiệp được chia thành nhóm A và nhóm B. Nhóm A bao gồm các sản phẩm là tư liệu sản xuất; nhóm B bao gồm các sản phẩm là tư liệu tiêu dùng.
Theo yêu cầu của quy luật tái sản xuất mở rộng và xem xét trên góc độ toàn bộ xã hội, nhóm A thường có tốc độ phát triển nhanh hơn nhóm B. Nhưng trong phạm vi từng nước, trong những giai đoạn nhất định, nhóm B có thể có tốc độ phát triển nhanh hơn nhóm A. 11 Căn cứ vào sự tương đồng về những đặc điểm kinh tế - kỹ thuật, công nghiệp được chia thành các ngành kinh tế - kỹ thuật (còn gọi là ngành công nghiệp chuyên môn hóa). Mỗi ngành kinh tế - kỹ thuật đó lại được phân chia thành những phân ngành hẹp.
Trong phân tổ thống kê, công nghiệp là ngành cấp I, các ngành kinh tế - kỹ thuật cấu thành ngành công nghiệp là các ngành cấp II, các phân ngành hẹp trong mỗi ngành cấp II đó là các ngành cấp III. Số lượng các ngành kinh tế - kỹ thuật đó và tỷ trọng giá trị sản xuất của từng ngành trong tổng giá trị sản xuất công nghiệp được gọi là cơ cấu ngành công nghiệp. Kế hoạch hóa cơ cấu ngành công nghiệp là nhiệm vụ đặc biệt quan trọng của công tác quản lý công nghiệp. Căn cứ vào trình độ trang bị kỹ thuật, công nghiệp được chia thành công nghiệp hiện đại và thủ công nghiệp.
Cách phân chia này cho phép thấy được trình độ phát triển công nghiệp và nhiệm vụ đổi mới nâng cao trình độ kỹ thuật của sản xuất công nghiệp. Tuy thủ công nghiệp có trình độ trang bị kỹ thuật và do đó, năng suất lao động thấp, nhưng lại có vai trò quan trọng trong việc thu hút lao động và cung cấp hàng hóa đáp ứng nhu cầu trong nước và xuất khẩu. Căn cứ vào quan hệ sở hữu của các doanh nghiệp, công nghiệp được chia thành công nghiệp quốc doanh (Nhà nước), công nghiệp ngoài quốc doanh và công nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Trong quá trình đổi mới kinh tế ở nước ta, đã hình thành cơ cấu công nghiệp nhiều thành phần, các thành phần kinh tế đó tạo thành những trụ cột của nền công nghiệp và nền kinh tế quốc dân.
Mỗi cách phân loại nêu trên có tác dụng riêng trong công tác quản lý công nghiệp và chúng thường được sử dụng đồng thời trong quản lý nhằm những mục tiêu cụ thể riêng. Vai trò của công nghiệp trong sự phát triển kinh tế-xã hội Công nghiệp có vai trò hết sức quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế- xã hội của nước ta. Vai trò ấy thể hiện tập trung trên các mặt cơ bản dưới đây: Thứ nhất, công nghiệp sản xuất và trang bị những tư liệu lao động (máy móc, thiết bị, dụng cụ sản xuất) ngày càng hiện đại cho các ngành kinh tế trong quá trình 12 công nghiệp hóa, hiện đại hóa và xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật của nền sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa. Công nghiệp hóa, hiện đại hóa được coi là nhiệm vụ tất yếu để đưa đất nước thoát khỏi tình trạng nước nghèo và kém phát triển.
Một trong những nội dung trọng yếu của quá trình này là chuyển nền kinh tế từ trình độ thủ công, năng suất thấp sang nền kinh tế chủ yếu sử dụng các phương tiện kỹ thuật và các phương pháp sản xuất ngày càng hiện đại, có năng suất cao thông qua việc thực hiện cơ khí hóa, tự động hóa, điện khí hóa, hóa học hóa, sinh học hóa, tin học hóa. Trong nền kinh tế quốc dân, công nghiệp là ngành duy nhất sản xuất các loại máy móc, thiết bị cho bản thân nó và cho các ngành kinh tế quốc dân. Công nghiệp chính là nền tảng cơ bản tạo nên những thay đổi đó. Chính vì vậy, phát triển công nghiệp luôn được coi là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Thứ hai, công nghiệp sản xuất và cung cấp các hàng hóa tiêu dùng đáp ứng nhu cầu cải thiện đời sống của dân cư. Mức sống của dân cư ở mỗi nước phụ thuộc trực tiếp vào trình độ phát triển kinh tế nước đó. Khi kinh tế ở trình độ thấp kém, nông nghiệp là ngành giữ vị trí hàng đầu trong việc đáp ứng nhu cầu cơ bản và thiết yếu của dân cư – lương thực và thực phẩm. Trong cuộc sống hàng ngày, bên cạnh nhu cầu ăn để tái sản xuất sức lao động, con người còn có rất nhiều nhu cầu khác đòi hỏi phải được đáp ứng bằng các sản phẩm vật chất – nhu cầu mặc, ở, đi lại, chữa bệnh, học tập và vui chơi giải trí.
Mức độ đáp ứng nhu cầu này phụ thuộc trực tiếp vào trình độ phát triển công nghiệp. Khi trình độ kinh tế phát triển càng cao, mức sống của dân cư cũng ngày càng được nâng cao. Con người đòi hỏi những sản phẩm ngày càng đa dạng với những tính năng cao hơn. Sự phát triển công nghiệp được coi là điều kiện thỏa mãn các nhu cầu này, trực tiếp góp phần vào việc cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của dân cư.
Thứ ba, sự phát triển công nghiệp có ảnh hưởng to lớn đến tư duy, lối sống, phong cách và phương pháp tổ chức sản xuất và đời sống theo hướng hiện đại. 13 Công nghiệp là ngành đại diện cho phương thức sản xuất hiện đại. Với những đặc trưng vốn có của mình, công nghiệp không chỉ sử dụng các tư liệu sản xuất tiên tiến, mà còn có phương thức tổ chức sản xuất, tổ chức lao động và tổ chức quản lý tiên tiến hơn so với các ngành khác. Phương thức ấy thể hiện tính chặt chẽ và khoa học tạo điều kiện mang lại năng suất, chất lượng và hiệu quả cao.
Chính vì điều đó, phương thức tổ chức và quản lý của công nghiệp thường được coi là hình mẫu cho các ngành khác vận dụng phù hợp với điều kiện và đặc điểm cụ thể của mình. Hơn nữa, phương thức ấy còn được vận dụng ngày càng rộng rãi trong quản lý hành chính và tổ chức xã hội của mỗi quốc gia. Sự phát triển công nghiệp làm cho giai cấp công nhân ngày càng phát triển cả về số lượng và chất lượng. Giai cấp công nhân là giai cấp đại diện cho phương thức sản xuất mới, là giai cấp có ý thức hệ tiên tiến, giai cấp lãnh đạo cách mạng.
Sự phát triển của công nghiệp, do đó, có ảnh hưởng rộng lớn đến tư duy, ý thức và hệ thống chính trị của mỗi quốc gia. Việc sử dụng các sản phẩm công nghiệp không chỉ là việc thỏa mãn nhu cầu vật chất và tinh thần của con người, mà còn có ảnh hưởng đến tư duy, lối sống, tác phong của con người và tổ chức đời sống xã hội. Trên đây là những biểu hiện cơ bản nhất vai trò của công nghiệp trong sự phát triển kinh tế-xã hội của đất nước.