Chương 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận về phát triển kinh tế biển. Phương pháp nghiên cứu. Thực trạng phát triển kinh tế biển ở tỉnh Thái Bình.
Định hướng và giải pháp phát triển kinh tế biển ở tỉnh Thái Bình. Kết luận Tài liệu tham khảo Phụ lục 3 z CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ BIỂN 1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu Thế kỷ XXI trên thế giới được định nghĩa là “ thế kỷ của đại dươmg” với hàm ý là thế kỷ với hướng phát triển chiến lược hướng ra biển, khai thác các lợi ích từ biển. Trên thế giới và Việt Nam không nằm ngoài chiến lược phát triển chung đó của thế giới. Với việc cần xác định rõ nội hàm của kinh tế biển, đã có nhiều công trình nghiên cứu từ rất lâu trên thế giới về kinh tế biển, trong đó học viên nhận thấy một khái niệm đầy đủ về kinh tế biển trong công trình gần đây nhất là Marine economy: A proposal for its definition in the European Union (2013) của tác giả Juan C.
Surís-Regueiro, khoa Kinh tế ứng dụng, trường đại học Vigo, Tây Ban Nha đã đưa ra một khái niệm kinh tế biển dựa trên thực tế phát triển kinh tế biển cụ thể tại Châu Âu. Trong đó chỉ ra 9 nhóm ngành chính và 34 ngành kinh tế biển và liên quan đến các hoạt động kinh tế biển. Có một số ngành yêu cầu khoa học công nghệ cao như: năng lượng sạch từ biển, công nghệ hóa học biển… mà ở Việt Nam chúng ta chưa có hay chính xác hơn là chưa khai thác được tiềm năng từ biển. Ở Trung Quốc, kinh tế biển cũng đã được coi trọng phát triển từ lâu và hiện nay việc phát triển kinh tế biển ở Trung Quốc đang hướng tới sự phát triển bền vững hơn.
Trong tài liệu Countermeasure Research on Blue Marine Economy Development of Dalian (2013) của tác giả Rong Liu và Liyan Chen cho rằng nền kinh tế biển xanh phải phát triển một cách tổng thể các ngành kinh tế biển truyền thống và hiện đại, dựa trên cách tiếp cận thống nhất trong quản lý tổng thể từ đất liền ra tới biển và sự đổi mới khoa học công nghệ hiện đại để bảo vệ tổng thể sinh thái ven biển – biển. Trong đó tác giả đưa ra trường hợp nghiên cứu cụ thể là ở Đại Liên (Trung Quốc) từ đó đưa đề xuất các giải pháp ứng phó với những khó khăn và phát triển kinh tế biển xanh tại khu vực này. 4 z Trong thời gian gần đây việc phát triển kinh tế biển được gắn chặt chẽ với phát triển một cách bền vững, hay gọi là một nền kinh tế biển xanh. Việc định hướng phát triển bền vững kinh tế biển được nêu ra trong khuyến cáo của UNEP (Chương trình Môi trường Liên Hiệp Quốc) trong ấn phẩm: Towards a Green Economy: Pathway to Sustainable Development and Poverty Eradication.
Trong đó việc nhấn mạnh vai trò phát triển kinh tế biển xanh bằng cách nâng cao hơn vai trò của yếu tố văn hóa và đặc biệt là việc bảo tồn tài nguyên thiên nhiên, giảm thiểu các hoạt động gây ô nhiễm môi trường biển và khu vực ven biển. Đồng thời cũng đưa ra các hướng dẫn, khuyến cáo cho các quốc gia đang phát triển kinh tế biển một số biện pháp, cách thức, định hướng quản lý nhằm xây dựng nền kinh tế biển xanh. Đó là những tài liệu nước ngoài chính được tác giả sử dụng trong việc làm rõ nội hàm của kinh tế biển đồng thời thực hiện luận văn theo một hướng tiếp cận đối với phát triển kinh tế biển là tiếp cận phát triển bền vững. Ở Việt Nam, từ năm 2007 khi ban hành Chiến lược biển Việt Nam và tầm nhìn đến năm 2020, nước ta chính thức xác định những khái niệm, mô hình và xuất hiện các công trình nghiên cứu về kinh tế biển, công cụ, mô hình quản lý và phát triển kinh tế biển.
Nổi bật trong số đó là PGS.TS Bùi Tất Thắng với rất nhiều công trình khoa học, bài báo đã công bố về kinh tế biển, chiến lược, nội dung phát triển kinh tế biển như: Các khu kinh tế ven biển trong tiến trình đưa Việt Nam trở thành ‘‘Quốc gia mạnh về biển, làm giàu từ biển’’ (2011), Sự phát triển kinh tế biển và chiến lược biển của một số nước trên thế giới (2007), đã luận giải một cách khoa học về chiến lược chính sách phát triển biển của Việt nam đến 2020. Trong điều kiện nguồn lực còn hạn chế, trước mắt cần chủ trương tập trung xây dựng một số đảo có điều kiện thuận lợi và nhiều tiềm năng, tạo sự bứt phá cho kinh tế biển, đảo, hình thành một số sản phẩm mũi nhọn phù hợp với lợi thế của vùng đảo như du lịch, dịch vụ biển, khai thác và nuôi trồng hải sản,… nâng cao mức đóng góp của kinh tế đảo trong kinh tế cả nước. Đồng thời cũng nêu lên các nội dung phát triển kinh tế biển cần ưu tiên đó là: xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng; phát triển một số 5 z ngành,sản phẩm chủ lực và phát triển giáo dục, nhân lực và trình độ khoa học-công nghệ biển.TS Nguyễn Chu Hồi (nguyên Phó tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam) với các công trình như Tầm nhìn kinh tế biển và phát triển thủy sản Việt Nam và Quản lý tổng hợp đới bờ (2010) đã chỉ ra rằng phát triển thủy sản là một ngành kinh tế biển mũi nhọn của nước ta trong tương lai cùng với các lợi ích về chủ quyền về biển đảo. Bên cạnh đó trong phương pháp quản lý vùng ven biển (còn gọi là đới bờ) tác giả cho thấy cần có một cách thức quản lý mới trong quản lý các ngành nghề, lĩnh vực diễn ra ven biển và trên biển nhằm tránh cách xung đột về lợi ích giữa các nhóm ngành gây ra các tổn hại tới môi trường đới bờ hướng tới việc phát triển bền vững đới bờ.
Từ đó đề xuất giải pháp và nội dung xây dựng phương pháp Quản lý tổng hợp đới bờ - một cách thức quản lý hiện đại đã thành công ở nhiều nước tiên tiến trên thế giới. Luận án Tiến sĩ: Quản lý kinh tế biển: kinh nghiệm quốc tế và vận dụng vào Việt Nam (2012) của tác giả Lại Lâm Anh đã khái quát sự quản lý của nhà nước đối với kinh tế biển, trong đó tập trung vào các chính sách quản lý kinh tế biển và các cơ quan quản lý kinh tế biển, với trọng tâm là quản lý nhà nước đối với vào năm lĩnh vực là: kinh tế hàng hải, khai thác khoáng sản biển, khai hải sản, du lịch biển và các khu kinh tế biển. Cụ thể đề tài đã hệ thống hoá các vấn đề về quản lý kinh tế biển, nghiên cứu thực tiễn quản lý kinh tế biển của Trung Quốc, Malaysia và Singapore, để tìm ra các vấn đề có tính quy luật trong quản lý kinh tế biển nói chung. Từ các vấn đề có tính quy luật trong quản lý kinh tế biển rút ra từ thực tiễn phát triển kinh tế biển của Trung Quốc, Malaysia và Singapore, kết hợp với nghiên cứu thực tiễn Việt Nam để đề xuất một số giải pháp mang tính gợi ý cho chính sách về quản lý kinh tế biển của Việt Nam.
Xây dựng mô hình các khu kinh tế biển được Nhà nước ta đặc biệt chú trọng là một trong những động lực mạnh mẽ để phát triển kinh tế biển của nước ta. Vùng ven biển Thái Bình với những lợi thế không nhỏ đã được Thủ tướng Chính phủ đưa vào quy hoạch thành lập Khu kinh tế ven biển từ năm 2011. Nắm bắt cơ hội đó, 6 z lãnh đạo tỉnh Thái Bình đã chỉ đạo Sở kế hoạch & Đầu tư tỉnh Thái Bình nghiên cứu xây dựng: Đề án thành lập khu kinh tế ven biển Thái Bình (2011) đồng thời ban hành nhiều văn bản, quy định liên quan đến phát triển kinh tế biển như là: chính sách hỗ trợ giá dầu ngư dân, chính sách hỗ trợ giống trong nuôi trồng thủy sản… Tuy nhiên, Đề án được thực hiện mới bước đầu khái quát được một số tiềm năng, lợi thế và triển vọng phát triển kinh tế biển của KVVB Thái Bình; chưa làm nổi bật lên cơ sở vững chắc cho thấy KVVB Thái Bình có khả năng phát triển mạnh về kinh tế biển trong tương lai để hình thành Khu kinh tế ven biển. Vì vậy cho đến nay việc thành lập khu kinh tế ven biển Thái Bình vẫn chưa được Chính phủ phê duyệt cho phép chính thức thành lập.
Do đó học viên thực hiện luận văn này hoàn toàn không trùng lặp với bất kỳ đề tài nghiên cứu nào trước đây với mục đích đánh giá lại hiện trạng và đưa ra những hướng đề xuất mới giúp phát triển khu vực ven biển Thái Bình hướng tới việc thành lập khu kinh tế ven biển Thái Bình và định hướng phát triển kinh biển khu vực ven biển Thái Bình tới năm 2025.2 Cơ sở lý luận về phát triển kinh tế biển 1.1 Các khái niệm về phát triển kinh tế biển 1.1 Khái niệm về kinh tế biển Hiện nay có nhiều giáo trình, tài liệu định nghĩa khác nhau về kinh tế biển. Tuy nhiên về cơ bản thì kinh tế biển là một khái niệm gắn liền với thực tiễn dễ dàng nhận thấy các ngành nghề, lĩnh vực liên quan trực tiếp tới biển. Vấn đề tranh luận thường nằm ở các ngành nghề, lĩnh vực liên quan gián tiếp tới biển, không diễn ra trên biển. Để đi đến khái niệm có chung nhất chúng ta hãy đi tìm hiểu các khái niệm khác nhau về kinh tế biển: - “ Kinh tế biển là hoạt động kinh tế có ba lợi ích kinh tế phục vụ con người rõ ràng nhất là vận tải đường biển, khai thác tài nguyên thiên nhiên phong phú và du lịch, viễn thông”.
- Kinh tế biển là toàn bộ các hoạt động kinh tế diễn ra trên biển và các hoạt động kinh tế trực tiếp liên quan đến khai thác biển (tuy không phải diễn ra trên biển 7 z nhưng hoạt động kinh tế này là nhờ vào yếu tố biển hoặc trực tiếp phục vụ các hoạt động kinh tế biển ở dải đất liền ven biển). - Kinh tế biển được hiểu theo hai nghĩa hẹp và rộng (Bùi Tất Thắng, 2011): + Theo nghĩa hẹp: Kinh tế biển là toàn bộ hoạt động kinh tế diễn ra trên biển bao gồm: kinh tế hàng hải, hải sản, khai thác dầu khi ngoài khơi, du lịch biển, làm muối, dịch vụ cứu hộ cứu nạn, kinh tế đảo.