Chương 1. Tổng quan về PTKT bền vững của vùng KTTĐ trong bối cảnh BĐKH. Địa điểm và phương pháp nghiên cứu. Đánh giá PTKT bền vững vùng KTTĐ ĐBSCL Chương 4.
Định hướng và giải pháp PTKT bền vững vùng KTTĐ ĐBSCL trong bối cảnh BĐKH document, khoa luan21 of 98. tai lieu, luan van22 of 98. TỔNG QUAN VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ BỀN VỮNG CỦA VÙNG KINH TẾ TRỌNG ĐIỂM TRONG BỐI CẢNH BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU 1. Phát triển kinh tế và phát triển kinh tế bền vững 1.
Phát triển kinh tế PTKT là một thuật ngữ lâu đời và đang được sử dụng phổ biến hiện nay. Theo nghiên cứu của Mansell và When (1998), PTKT là khái niệm đã được biết đến kể từ Chiến tranh Thế giới II liên quan đến TTKT, tăng mức thu nhập bình quân đầu người và đạt được một tiêu chuẩn tương đương với mức sống với các nước công nghiệp (CN) phát triển [62]. Arthur O’ Sullivan và Steven M. Sheffrin (2007) cho rằng phạm vi của PTKT bao gồm các quy trình và chính sách mà theo đó một quốc gia cải thiện kinh tế, chính trị, xã hội và phúc lợi của người dân.
Ở Việt Nam, Nguyễn Ngọc Sơn và Bùi Đức Tuân (2012) trong “Giáo trình kinh tế phát triển” cho rằng “PTKT là quá trình thay đổi theo hướng tiến bộ về kinh tế của một quốc gia trong bối cảnh nền kinh tế đang tăng trưởng”. PTKT bao gồm sự lớn lên của nền kinh tế (TTKT) và quá trình thay đổi cấu trúc của nền kinh tế (chuyển dịch CCKT) [27]. Tác giả Bùi Tất Thắng (2017), nguyên Viện trưởng Viện Chiến lược phát triển, Bộ Kế hoạch và Đầu tư cũng cho rằng, sự PTKT không chỉ là sự gia tăng quy mô kinh tế (TTKT), mà còn bao hàm sự thay đổi CCKT theo hướng tiến bộ. Bên cạnh đó, PTKT cũng cần đảm bảo rằng mọi người đều được bình đẳng về cơ hội để tham gia vào quá trình phát triển, do đó đều được hưởng thụ thành quả của sự phát triển [43].
Tác giả Ngô Doãn Vịnh (2013) trong tác phẩm “Giải thích thuật ngữ trong nghiên cứu phát triển - bối cảnh và điều kiện của Việt Nam” thì cho rằng PTKT là gia tăng các hoạt động kinh tế, cả về quy mô và chất lượng của một quốc gia (hoặc của vùng, tỉnh huyện, doanh nghiệp, gia đình) vì nhu cầu của người dân. Tác giả cũng cho rằng khái niệm PTKT đã bao hàm nội dung về phát triển xã hội và BVMT [40]. Nhìn chung, nghiên cứu về PTKT dù hiện có nhiều khái niệm và các cách định nghĩa, lý giải khác nhau nhưng hầu hết các học giả trong và ngoài nước đều thống nhất cao rằng PTKT không có nghĩa chỉ là sự gia tăng thu nhập, lớn lên của nền kinh document, khoa luan22 of 98. tai lieu, luan van23 of 98.
8 tế mà còn là sự thay đổi bên trong của nội bộ nền kinh tế. PTKT không chỉ là vấn đề TTKT, chuyển dịch CCKT theo hướng hiện đại, hiệu quả mà còn phải còn đi kèm với vấn đề bình đẳng trong tham gia và hưởng thụ thành quả của PTKT. Theo đó về cơ bản các nội dung của PTKT gồm: (1) Tăng trưởng về kinh tế: Đây được coi là là điều kiện cơ bản và cần thiết nhất để một nền kinh tế phát triển. TTKT thể hiện ở sự gia tăng về quy mô, số lượng của nền kinh tế, gồm hai hình thức: (i) Tăng trưởng theo chiều rộng, thông qua việc gia tăng thêm các yếu tố đầu vào của nền kinh tế như: vốn, lao động và TNTN và (ii) Tăng trưởng theo chiều sâu, thông việc qua tăng NSLĐ, tăng hiệu quả sử dụng các yếu tố đầu vào, nâng cao hiệu quả KHCN, môi trường kinh doanh và thể chế.
Thực tế cho thấy hiện nay TTKT theo chiều sâu phổ biến ở các nước phát triển, còn đối với các nước đang và kém phát triển TTKT theo chiều rộng hiện nay vẫn đang là chủ yếu. (2) Chuyển dịch CCKT theo hướng hiện đại, hiệu quả: Chuyển dịch CCKT là sự thay đổi tỷ trọng của các ngành, các thành phần kinh tế theo hướng gia tăng những khu vực có NSLĐ cao, giá trị gia tăng lớn và giảm dần tỷ trọng những khu vực có NSLĐ và giá trị gia tăng thấp được coi là chuyển dịch theo hướng hiện đại, hiệu quả. Nếu xét theo các ngành, lĩnh vực thì chuyển dịch CCKT được coi là hiện đại, hiệu quả khi gia tăng tỷ trọng của các ngành DV, CN, giảm dần tỷ trọng các ngành NN. (3) Bình đẳng trong hưởng thụ thành quả của PTKT: Nền kinh tế phát triển cần đảm bảo rằng mọi người đều có cơ hội bình đẳng để tham gia vào quá trình PTKT và bình đẳng trong việc hưởng thụ những thành quả do PTKT mang lại.
Nội hàm của nội dung này có nghĩa là PTKT đồng nghĩa với việc phải đảm bảo cuộc sống của phần lớn dân cư trong xã hội trở nên tiến bộ và gia tăng chất lượng cuộc sống. Phát triển bền vững và phát triển kinh tế bền vững Ra đời từ thập niên 80 của thế kỷ XX và dần trở thành xu thế chung trong phát triển của các quốc gia trên thế giới, vấn đề PTBV đã được nhiều các tổ chức, nhà khoa học đưa ra bàn thảo và nghiên cứu. Đầu tiên có thể kể đến là báo cáo “Tương lai chung của chúng ta - Our Common Future” của Hội đồng thế giới về môi trường và phát triển của LHQ (World document, khoa luan23 of 98. tai lieu, luan van24 of 98.
9 Commission on Environment and Development - WCED) đưa ra năm 1987. Báo cáo đã phân tích các nguy cơ và thách thức đe dọa sự PTBV của các quốc gia trên thế giới. Trong đó đưa ra khái niệm về PTBV là: “sự phát triển đáp ứng các nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không ảnh hưởng đến khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai”. Khái niệm này bao hàm trong nó hai khái niệm: (1) khái niệm “nhu cầu”, đặc biệt là những nhu cầu thiết yếu của người nghèo trên thế giới và (2) khái niệm về “sự giới hạn” do tình trạng của khoa học kỹ thuật và tổ chức xã hội.
Hạn chế này áp đặt lên khả năng đáp ứng của môi trường tự nhiên nhằm thỏa mãn nhu cầu hiện tại và tương lai [48]. Đây có thể coi là khái niệm đã đặt nền móng cho việc nghiên cứu bản chất về PTBV và các nguyên tắc, các tiêu chí, chỉ tiêu đánh giá PTBV, ngày nay khái niệm này vẫn đang được sử dụng rộng rãi trên thế giới [48]. Tiếp theo tại Hội nghị Thượng đỉnh Trái đất về Môi trường và phát triển tổ chức ở Rio de Janiero (Braxin) năm 1992 và Hội nghị Thượng đỉnh thế giới về PTBV tổ chức ở Johannesburg (Cộng hoà Nam Phi) năm 2002 có 196 nước và tổ chức quốc tế tham dự (có Việt Nam), đã bàn thảo, bổ sung, hoàn thiện Chương trình Nghị sự 21 và từ đó đưa ra khái niệm đầy đủ, toàn diện về PTBV, theo đó "PTBV là quá trình phát triển có sư kết hợp chặt chẽ, hợp lý, hài hòa giữa PTKT với phát triển xã hội và BVMT nhằm đáp ứng nhu cầu đời sống con người trong hiện tại, nhưng không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai”. Khái niệm trên đã khẳng định PTBV chỉ đảm bảo khi có sự kết hợp chặt chẽ, hài hòa giữa ba nội dung của PTBV là: (1) PTKT bền vững, (2) xã hội bền vững và (3) môi trường bền vững.
PTKT bền vững (hay tính bền vững của PTKT), Holger Rogal (2011) trong tác phẩm “Kinh tế học bền vững - lý thuyết kinh tế và thực tế của PTBV” đã tổng hợp, rà soát các quan điểm về PTBV trong các nghiên cứu kinh tế truyền thống với trường phái định hướng kinh tế làm trọng tâm, cung cấp cơ sở cho việc xây dựng các chính sách PTBV ở các quốc gia như: chính sách kinh tế bền vững, chính sách năng lượng bền vững, chính sách giao thông bền vững. Ngoài ra trong tác phẩm này, Holger Rogal cũng đã đưa ra quan điểm về PTKT bền vững, ông cho rằng “xét về phương diện các vấn đề toàn cầu vào đầu thế kỷ XXI (như BĐKH, đói nghèo, sử dụng quá document, khoa luan24 of 98. tai lieu, luan van25 of 98. 10 mức TNTN, công bằng trong phân phối) thì kinh tế truyền thống cần phải được chuyển sang kinh tế mới với tầm nhìn dài mà trong đó phải học cách tôn trọng những khả năng chịu đựng của thiên nhiên và các nguyên tắc công bằng.
Loại kinh tế như vậy được gọi là Kinh tế bền vững” [26]. Sachs (2014) trong tác phẩm“Kinh tế học về sự PTBV”, đã tổng quan, hệ thống hóa và đánh giá lại các vấn đề của kinh tế học hiện đại và cho rằng cần phải có một cách nhìn mới, cách tiếp cận mới của kỷ nguyên mới về PTBV. Sachs nhận định “các Chính phủ phải cùng đàm phán các thỏa thuận toàn cầu mới về vấn đề tài trợ cho PTBV, về các mục tiêu PTBV và BĐKH. Có như vậy mới có thể thành công trong kỷ nguyên mới của sự PTBV, theo nó sẽ sản sinh ra một kinh tế học mới về PTBV” [72].
Tại Việt Nam, một số học giả cũng đã nghiên cứu và đưa ra các quan niệm riêng hay phân tích về bản chất của PTKT bền vững (hay còn gọi là tính bền vững của PTKT). Nguyễn Thị Nga (2007) trong tác phẩm “Quan hệ giữa TTKT và công bằng xã hội ở Việt Nam thời kỳ đổi mới” cho rằng “Chất lượng PTKT là sự PTKT nhanh, hiệu quả và bền vững của nền kinh tế, thể hiện qua năng suất nhân tố tổng hợp và năng suất lao động (NSLĐ) xã hội tăng và ổn định, mức sống của người dân được nâng cao, CCKT được chuyển dịch phù hợp với từng thời kỳ phát triển của đất nước, sản xuất có tính cạnh tranh cao, tăng trưởng đi đôi với tiến bộ, công bằng xã hội và BVMT, quản lý kinh tế nhà nước có hiệu quả”[21]. Tác giả Nguyễn Hữu Sở (2009) trong đề tài “PTKT bền vững ở Việt Nam” cho rằng khái niệm PTKT bền vững chính là điều kiện để đảm bảo PTBV về kinh tế, có tốc độ TTKT cao, hợp lý nhờ có một CCKT phù hợp và chuyển dịch CCKT theo hướng tiến bộ, đủ năng lực để ảnh hưởng đến các vấn đề môi trường và các vấn đề xã hội, thực hiện mục tiêu của kinh tế vĩ mô.