Tổng quan luận án

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Khái niệm phát triển bền vững hình thành từ thập niên 1980 của thế kỷ XX, với trọng tâm là con người và sự công bằng trong một thế hệ cũng như giữa các thế hệ. Báo cáo "Tương lai chung của chúng ta" (Our Common Future) năm 1987 của Hội đồng Thế giới về Môi trường và Phát triển của Liên hợp quốc (WCED) đã đặt nền tảng định nghĩa phát triển bền vững là sự phát triển đáp ứng nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không làm ảnh hưởng đến khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai, bao gồm ba trụ cột: kinh tế, xã hội và môi trường. Tại Việt Nam, quan điểm phát triển bền vững được khẳng định từ Đại hội Đảng lần thứ VII (1991), tiếp tục qua các kỳ Đại hội và gần đây nhất là Đại hội XIII (2021). Năm 2004, Thủ tướng Chính phủ ban hành Định hướng Chiến lược phát triển bền vững tại Việt Nam (Chương trình Nghị sự 21 của Việt Nam). Nhằm tạo động lực tăng trưởng, từ năm 1997 Việt Nam đã thành lập các vùng kinh tế trọng điểm, được tái khẳng định vai trò qua Nghị quyết số 128/NQ-CP ngày 11/9/2020 của Chính phủ và Nghị định số 92/2006/NĐ-CP.

Vùng Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) chiếm khoảng 12% diện tích, 19% dân số và đóng góp khoảng 18% GDP của cả nước. Trong đó, Vùng kinh tế trọng điểm vùng Đồng bằng sông Cửu Long (KTTĐ ĐBSCL) được thành lập theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ năm 2009, giữ vai trò hạt nhân, cực tăng trưởng và trung tâm lớn về sản xuất lúa gạo, thủy sản, chuyển giao công nghệ sinh học và dịch vụ du lịch. Tuy nhiên, thực tế giai đoạn 2013–2019 cho thấy phát triển kinh tế của vùng bộc lộ nhiều bất cập:

  • Tốc độ tăng trưởng GRDP bình quân hàng năm của vùng chỉ đạt 6,1%, thấp hơn mức trung bình 6,46% của cả nước và thấp hơn các vùng kinh tế trọng điểm khác.
  • GRDP bình quân đầu người toàn vùng năm 2019 đạt 54,60 triệu đồng/người, thấp hơn 13% so với trung bình cả nước.
  • Năng suất lao động năm 2013 cao hơn mức trung bình cả nước, nhưng đến năm 2019 đã sụt giảm xuống mức thấp hơn 8% so với cả nước.

Đồng thời, theo kịch bản biến đổi khí hậu cập nhật năm 2021 của Bộ Tài nguyên và Môi trường, vùng KTTĐ ĐBSCL chịu nguy cơ tổn thương nặng nề: khi mực nước biển dâng 100 cm, tỷ lệ ngập lụt dự báo tại Cà Mau là 79,62% diện tích, Kiên Giang là 75,68%, Cần Thơ là 55,82% và An Giang là 1,82%. Cơ cấu kinh tế vùng lại phụ thuộc lớn vào nông nghiệp và thủy sản – những khu vực nhạy cảm với khí hậu. Khoảng trống nghiên cứu đặt ra là: cần làm rõ nội hàm phát triển kinh tế bền vững của một vùng kinh tế trọng điểm (vùng đóng vai trò cực tăng trưởng) đặt trong bối cảnh biến đổi khí hậu; xây dựng bộ tiêu chí đánh giá khoa học và đề xuất các giải pháp đồng bộ kết hợp giữa phát triển nội tại, phát huy tác động lan tỏa và tăng cường liên kết kinh tế vùng.

Mục tiêu nghiên cứu

  1. Mục tiêu tổng quát: Làm rõ cơ sở lý luận, nội hàm về phát triển kinh tế bền vững vùng kinh tế trọng điểm trong bối cảnh biến đổi khí hậu; đánh giá thực trạng và đề xuất các định hướng, giải pháp nhằm giúp phát triển kinh tế bền vững vùng KTTĐ ĐBSCL, phát huy tiềm năng và vai trò lan tỏa của vùng trong bối cảnh biến đổi khí hậu.

  2. Mục tiêu cụ thể:

  • Mục tiêu cụ thể 1: Làm rõ cơ sở lý luận, xây dựng khung lý thuyết nghiên cứu, đề xuất hệ thống các tiêu chí/chỉ tiêu đánh giá phát triển kinh tế bền vững vùng kinh tế trọng điểm trong bối cảnh biến đổi khí hậu.
  • Mục tiêu cụ thể 2: Đánh giá thực trạng mức độ phát triển kinh tế bền vững của vùng KTTĐ ĐBSCL giai đoạn vừa qua, làm rõ các kết quả đạt được, hạn chế và những nguyên nhân của các hạn chế đó.
  • Mục tiêu cụ thể 3: Đề xuất định hướng và các giải pháp chủ yếu nhằm phát triển kinh tế bền vững đối với vùng KTTĐ ĐBSCL đến năm 2030 trong bối cảnh biến đổi khí hậu.

Câu hỏi nghiên cứu

  1. Thế nào là phát triển kinh tế bền vững của vùng kinh tế trọng điểm trong bối cảnh biến đổi khí hậu? Những tiêu chí/chỉ tiêu nào đánh giá mức độ phát triển kinh tế bền vững của vùng kinh tế trọng điểm?
  2. Thực trạng phát triển kinh tế vùng KTTĐ ĐBSCL giai đoạn vừa qua đã thực sự bền vững hay chưa? Phát triển kinh tế bền vững vùng KTTĐ ĐBSCL trong bối cảnh biến đổi khí hậu cần đáp ứng những yêu cầu gì?
  3. Định hướng và những giải pháp chủ yếu nào để phát triển kinh tế vùng KTTĐ ĐBSCL bền vững trong bối cảnh biến đổi khí hậu?

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Vấn đề phát triển kinh tế bền vững của vùng kinh tế trọng điểm vùng Đồng bằng sông Cửu Long.
  • Phạm vi khoa học: Nội dung nghiên cứu bao gồm (1) Phát triển kinh tế và phát triển kinh tế bền vững của vùng KTTĐ ĐBSCL và các địa phương trong vùng; (2) Tác động của biến đổi khí hậu đến phát triển kinh tế bền vững của vùng; (3) Tính bền vững trong phát triển kinh tế của vùng trong bối cảnh biến đổi khí hậu.
  • Phạm vi không gian: Vùng KTTĐ ĐBSCL gồm 04 tỉnh, thành phố trực thuộc: Cần Thơ, An Giang, Kiên Giang và Cà Mau.
  • Phạm vi thời gian: Đánh giá thực trạng giai đoạn 2013–2019 (giai đoạn 2020–2021 chịu tác động bất thường của đại dịch COVID-19 làm số liệu kinh tế - xã hội không phản ánh xu hướng dài hạn và không được thu thập đầy đủ); đề xuất định hướng và giải pháp đến năm 2030.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Các hướng nghiên cứu trước mà tác giả điểm lại

Luận án đã tổng quan 4 nhóm tài liệu học thuật chính:

  1. Lý luận về phát triển kinh tế và phát triển kinh tế bền vững:
  • Quốc tế: Mansell và When (1998) nghiên cứu phát triển kinh tế gắn với tăng thu nhập bình quân đầu người; Arthur O’Sullivan và Steven M. Sheffrin (2007) phân tích các quy trình chính sách cải thiện phúc lợi; Báo cáo Brundtland của WCED (1987); Holger Rogal (2011) trong "Kinh tế học bền vững" đề cập việc chuyển đổi kinh tế thích ứng giới hạn tự nhiên; Sachs (2014) trong "Kinh tế học về sự phát triển bền vững" bàn về kinh tế học kỷ nguyên mới.
  • Việt Nam: Nguyễn Ngọc Sơn và Bùi Đức Tuân (2012), Bùi Tất Thắng (2017), Ngô Doãn Vịnh (2013), Nguyễn Thị Nga (2007), Nguyễn Hữu Sở (2009), Hoàng Thị Thu Hà (2015), Ngô Văn Khương (2016), Phạm Văn Linh (2020), Lê Văn Lợi (2022), Đỗ Thị Kim Tiên (2020), Nguyễn Thị Xuân (2020). Các tác giả làm rõ tính bền vững trong tăng trưởng, chuyển dịch cơ cấu và phân phối công bằng thành quả phát triển.
  1. Lý thuyết phát triển kinh tế vùng và cực tăng trưởng:
  • Adam Smith (1776) với lý thuyết lợi thế cạnh tranh vùng; Michael Porter (1985, 1990) về lợi thế cạnh tranh quốc gia và cụm ngành; Alfred Weber về lý thuyết định vị công nghiệp; Walter Christaller (1933) và August Lösch (1939) với lý thuyết vị trí trung tâm; François Perroux (1950, 1955), Jacques Boudeville (1966), John Friedmann (1966) với lý thuyết cực tăng trưởng và hiệu ứng lan tỏa; Paul Krugman (1991), Masahisa Fujita, Krugman và Anthony Venables (1999) với lý thuyết địa kinh tế mới (New Economic Geography).
  • Tại Việt Nam: Lê Thu Hoa (2007), Nguyễn Văn Nam và Ngô Thắng Lợi (2010) hệ thống hóa lý luận kinh tế vùng và phân vùng kinh tế theo trình độ phát triển.
  1. Tác động của biến đổi khí hậu đến kinh tế:
  • Quốc tế: Mendelsohn và cộng sự (1994) dùng mô hình Ricardian lượng hóa tác động khí hậu lên giá trị đất nông nghiệp; Văn phòng Quốc hội Hoa Kỳ (2003); Nicholas Stern (2006) trong "The Economics of Climate Change" cảnh báo thiệt hại do biến đổi khí hậu có thể làm mất từ 5% đến 20% GDP toàn cầu mỗi năm nếu không có hành động giảm nhẹ; Goulder và Pizer (2006); FitzRoy và Papyrakis (2010); CEDA - Úc (2014); Jonathan M. Harris, Brian Roach và Anne-Marie Codur (2015) phân tích chi phí - lợi ích khí hậu.
  • Tại Việt Nam: Các nghiên cứu của Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn và Biến đổi khí hậu (IMHEN, 2010, 2011); Báo cáo CIEM phối hợp Đại học Copenhagen (2012); Ngô Thắng Lợi và Vũ Thành Hưởng (2015); Chương trình GEMMES Việt Nam hợp tác giữa BTNMT và AFD (2021) công bố tại COP26; Báo cáo đánh giá khí hậu quốc gia của Bộ Tài nguyên và Môi trường (2021).
  1. Khung tiêu chí và chỉ số đánh giá phát triển bền vững:
  • Hướng dẫn của Liên hợp quốc (UNCSD): Bộ chỉ tiêu SDI 1996 (khung nhân quả D-P-S-R), SDI 2001 (khung 4 trụ cột), SDI 2007 (khung chủ đề); các bộ chỉ tiêu MDGs (2000, 2006), SDGs (2015); các chỉ số tổng hợp quốc tế như ESI, HDI, CSDI, DoS; nghiên cứu của Olsson (2004).
  • Tại Việt Nam: Bộ chỉ tiêu thử nghiệm của Cục BVMT (1998); Bộ KH&ĐT và UNDP (2006); Quyết định số 432/QĐ-TTg ngày 12/4/2012 của Thủ tướng Chính phủ; Bộ chỉ tiêu cấp địa phương của Bộ KH&ĐT (2013); Đề tài TN3/T08 của Trần Văn Ý (2015) cho vùng Tây Nguyên; Bộ chỉ tiêu VSDGs theo Quyết định số 622/QĐ-TTg ngày 10/5/2017 và Thông tư năm 2019 của Bộ KH&ĐT.

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết

  • Phần lớn các bộ tiêu chí hiện nay áp dụng ở quy mô cấp quốc gia hoặc cấp tỉnh đơn lẻ, thiếu vắng khung đánh giá chuyên biệt dành cho cấp độ vùng kinh tế trọng điểm – nơi đòi hỏi phải tích hợp đồng thời năng lực nội tại, chức năng cực tăng trưởng và khả năng lan tỏa, liên kết vùng.
  • Các nghiên cứu kinh tế vùng truyền thống ít tính toán định lượng các yếu tố tác động trực tiếp của biến đổi khí hậu (tổn thất thiên tai, mức tiêu hao năng lượng, cường độ phát thải khí nhà kính, chuyển dịch cơ cấu thích ứng ngập lụt và xâm nhập mặn).
  • Chưa có công trình nào áp dụng tích hợp phương pháp chuyên gia Delphi - KAMET, phương pháp chuẩn hóa chỉ số tổng hợp và phương pháp kiểm định tự tương quan không gian Moran's I để đánh giá toàn diện tính bền vững kinh tế của 4 tỉnh, thành phố thuộc vùng KTTĐ ĐBSCL trong bối cảnh khí hậu mới.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Lý thuyết, khái niệm và khung phân tích

  • Khái niệm: Luận án xác định phát triển kinh tế bền vững vùng kinh tế trọng điểm trong bối cảnh biến đổi khí hậu là sự phát triển vừa bảo đảm các yêu cầu tăng trưởng kinh tế liên tục, chuyển dịch cơ cấu kinh tế hợp lý, chia sẻ công bằng thành quả phát triển, vừa phát huy vai trò cực tăng trưởng, tạo sức hút, lan tỏa và liên kết chặt chẽ giữa các địa phương trong vùng và với các vùng khác, đồng thời đáp ứng các yêu cầu giảm nhẹ phát thải khí nhà kính và thích ứng hiệu quả với biến đổi khí hậu.
  • Khung lý thuyết: Kế thừa Lý thuyết cực tăng trưởng (Perroux, Boudeville), Lý thuyết địa kinh tế mới (Krugman) và Lý thuyết lợi thế cạnh tranh (Porter).
  • Khung phân tích theo chủ đề (Theme-based framework): Cấu trúc đánh giá được phân chia thành 3 trụ cột lớn:
    1. Phát triển kinh tế bền vững nội tại thích ứng với biến đổi khí hậu (quy mô và tốc độ tăng trưởng GRDP, GRDP/người, năng suất lao động, cơ cấu ngành nông - công nghiệp thích ứng khí hậu, tiêu hao năng lượng, phát thải khí nhà kính, tổn thất do thiên tai).
    2. Sức hút và tác động lan tỏa kinh tế (đóng góp thu ngân sách, bội chi ngân sách, mật độ kinh tế, di cư thuần, giảm nghèo, giải quyết việc làm).
    3. Mức độ liên kết kinh tế vùng (giao thương hàng hóa, luân chuyển hành khách và tương quan không gian GRDP/người).

Phương pháp nghiên cứu

Luận án sử dụng phương pháp nghiên cứu hỗn hợp kết hợp định tính và định lượng:

  • Phương pháp Delphi kết hợp quy tắc KAMET (Knowledge Acquisition for Multiple Experts with Time scales): Tiến hành tham vấn chuyên gia qua 3 vòng để rà soát, lựa chọn và sàng lọc bộ chỉ tiêu; sử dụng hệ số phù hợp Kendall ($W$) để kiểm định mức độ đồng thuận và độ tin cậy của các chuyên gia.
  • Phương pháp chuẩn hóa số liệu: Áp dụng phương pháp Min - Max đưa các chỉ tiêu về cùng thang đo không thứ nguyên trong khoảng $[0, 1]$.
    • Đối với chỉ tiêu có tác động thuận chiều với tính bền vững: $$S_i = \frac{X_i - X_{\min}}{X_{\max} - X_{\min}}$$
    • Đối với chỉ tiêu có tác động nghịch chiều với tính bền vững: $$S_i = \frac{X_{\max} - X_i}{X_{\max} - X_{\min}}$$
  • Phương pháp tính toán chỉ số tổng hợp: Sử dụng công thức trung bình cộng có trọng số hoặc không trọng số giữa các chỉ số thành phần theo các chủ đề phát triển.
  • Phương pháp kiểm định mức độ liên kết kinh tế không gian: Sử dụng chỉ số tự tương quan không gian Moran's $I$ thông qua phần mềm ROOKCASE dựa trên ma trận tọa độ địa lý và số liệu GRDP bình quân đầu người của các tỉnh, thành phố nhằm xác định mức độ tập trung và liên kết không gian kinh tế.
  • Phương pháp phân tích ma trận SWOT: Đánh giá Điểm mạnh (Strengths), Điểm yếu (Weaknesses), Cơ hội (Opportunities) và Thách thức (Threats) đối với phát triển kinh tế của vùng.
  • Phương pháp so sánh và tổng hợp dữ liệu thống kê.

Nguồn tư liệu và dữ liệu

  • Niên giám Thống kê quốc gia và Niên giám Thống kê của 4 địa phương (Cần Thơ, An Giang, Kiên Giang, Cà Mau) giai đoạn 2013–2019 do Tổng cục Thống kê công bố.
  • Kịch bản Biến đổi khí hậu và Nước biển dâng cho Việt Nam (các phiên bản 2009, 2016 và 2021) do Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành.
  • Số liệu từ Đề tài nghiên cứu khoa học: "Nghiên cứu xác định các chỉ số an ninh môi trường, đề xuất khung chính sách và giải pháp quản lý, ứng phó".
  • Dữ liệu báo cáo của Chương trình GEMMES Việt Nam (2021), Viện Nghiên cứu Quản lý Trung ương (CIEM), Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn và Biến đổi khí hậu (IMHEN).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1. Tổng quan về phát triển kinh tế bền vững của vùng kinh tế trọng điểm trong bối cảnh biến đổi khí hậu

Chương 1 hệ thống hóa cơ sở lý luận về phát triển kinh tế, phát triển bền vững và phát triển kinh tế bền vững. Luận án phân tích sâu sắc các lý thuyết phát triển kinh tế vùng: lý thuyết lợi thế cạnh tranh, lý thuyết định vị công nghiệp, lý thuyết vị trí trung tâm, lý thuyết cực tăng trưởng và lý thuyết địa kinh tế mới. Từ đó, chương xác lập khái niệm và 4 nội hàm đặc thù của phát triển kinh tế bền vững vùng kinh tế trọng điểm: (1) Tính bền vững kinh tế nội tại; (2) Tác động lan tỏa; (3) Mức độ liên kết kinh tế vùng; (4) Khả năng thích ứng chủ động với biến đổi khí hậu.

Chương cũng tổng kết kinh tế học biến đổi khí hậu trên thế giới và Việt Nam, chỉ rõ các tác động tiêu cực của nước biển dâng, xâm nhập mặn, nhiệt độ tăng đối với năng suất mùa màng, nhu cầu năng lượng và tăng trưởng dài hạn. Đồng thời, tác giả tổng hợp hơn 900 bộ tiêu chí phát triển bền vững trên thế giới (SDI, MDGs, SDGs, HDI, ESI...) và các khung thể chế tại Việt Nam (Chiến lược phát triển bền vững theo Quyết định 432/QĐ-TTg, bộ chỉ tiêu cấp địa phương 2013, VSDGs 2017 theo Quyết định 622/QĐ-TTg), qua đó rút ra khoảng trống cần xây dựng một bộ tiêu chí đặc thù cho vùng kinh tế trọng điểm trong bối cảnh biến đổi khí hậu.

Chương 2. Địa điểm và phương pháp nghiên cứu

Chương 2 trình bày vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và kịch bản biến đổi khí hậu của 4 tỉnh, thành phố vùng KTTĐ ĐBSCL (Cần Thơ, An Giang, Kiên Giang, Cà Mau). Dữ liệu kịch bản khí hậu năm 2021 cho thấy nguy cơ ngập nghiêm trọng nếu mực nước biển dâng 100 cm:

Địa phương Tỷ lệ diện tích có nguy cơ ngập do NBD 100 cm (%)
Cà Mau 79,62%
Kiên Giang 75,68%
Cần Thơ 55,82%
An Giang 1,82%

Tác giả thiết lập khung tiếp cận nghiên cứu và quy trình xây dựng bộ chỉ tiêu đánh giá gồm 4 bước. Phương pháp tham vấn chuyên gia Delphi kết hợp quy tắc KAMET qua 3 vòng đánh giá được mô tả chi tiết, cùng các kỹ thuật chuẩn hóa số liệu Min-Max, phương pháp tính chỉ số tổng hợp, phương pháp so sánh. Đặc biệt, chương thiết lập quy trình tính toán chỉ số tự tương quan không gian Moran's $I$ bằng phần mềm ROOKCASE dựa trên tọa độ địa lý và GRDP bình quân đầu người, cùng quy trình xây dựng ma trận phân tích SWOT.

Chương 3. Đánh giá phát triển kinh tế bền vững vùng kinh tế trọng điểm vùng Đồng bằng sông Cửu Long

Chương 3 trình bày kết quả xây dựng bộ tiêu chí hoàn chỉnh sau 3 vòng tham vấn Delphi và kết quả tính toán định lượng thực trạng phát triển kinh tế giai đoạn 2013–2019:

  • Tăng trưởng kinh tế: Tốc độ tăng GRDP bình quân hàng năm của toàn vùng đạt 6,1%, thấp hơn mức 6,46% của cả nước. GRDP bình quân đầu người năm 2019 đạt 54,60 triệu đồng/người (chỉ bằng 87% trung bình cả nước).
  • Năng suất lao động: Có xu hướng giảm sút tương đối so với cả nước (từ mức cao hơn trung bình cả nước năm 2013 xuống thấp hơn 8% vào năm 2019). Tỷ lệ lao động qua đào tạo còn thấp.
  • Các chỉ số môi trường - khí hậu: Tiêu hao năng lượng trên một đơn vị GRDP, cường độ phát thải khí nhà kính và giá trị tổn thất kinh tế do thiên tai được lượng hóa cụ thể theo từng địa phương.
  • Cơ cấu kinh tế: Tỷ trọng nông - lâm - thủy sản vẫn chiếm tỷ lệ cao trong GRDP, công nghiệp chế biến chế tạo chuyển dịch chậm và chưa tạo được giá trị gia tăng đột biến.
Chỉ tiêu kinh tế vĩ mô cơ bản Vùng KTTĐ ĐBSCL Cả nước (Bình quân) So sánh
Tốc độ tăng trưởng GRDP bình quân (2013–2019) 6,10%/năm 6,46%/năm Thấp hơn 0,36%
GRDP bình quân đầu người (năm 2019) 54,60 triệu đồng/người 62,76 triệu đồng/người Thấp hơn 13%
Năng suất lao động (năm 2019 so với cả nước) - - Thấp hơn 8%

Kết quả tính toán chỉ số Moran's $I$ qua phần mềm ROOKCASE cho thấy giá trị tương quan không gian qua các năm trong giai đoạn 2013–2019 ở mức thấp, phản ánh mức độ liên kết kinh tế giữa 4 tỉnh, thành phố còn rời rạc. Thành phố Cần Thơ chưa phát huy đầy đủ vai trò hạt nhân lan tỏa đến An Giang, Kiên Giang và Cà Mau. Luận án chỉ ra 4 nhóm hạn chế chính và nguyên nhân: điểm nghẽn hạ tầng giao thông kết nối, chất lượng nguồn nhân lực thấp, thể chế điều phối vùng chưa đủ hiệu lực và sức ép gia tăng từ ngập lụt, xâm nhập mặn.

Chương 4. Định hướng và giải pháp phát triển kinh tế bền vững vùng kinh tế trọng điểm vùng Đồng bằng sông Cửu Long trong bối cảnh biến đổi khí hậu

Chương 4 phân tích bối cảnh quốc tế, trong nước và dự báo khí hậu tác động đến ĐBSCL; tổng hợp ma trận SWOT và xác định quan điểm, mục tiêu phát triển kinh tế bền vững đến năm 2030. Luận án đề xuất 3 nhóm giải pháp đồng bộ:

  1. Nhóm giải pháp phát triển kinh tế bền vững nội tại thích ứng với biến đổi khí hậu:
  • Chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp theo hướng thuận thiên, chuyển đổi linh hoạt mô hình canh tác thích ứng với ranh mặn - ngọt; phát triển nông nghiệp sinh thái, hữu cơ, công nghệ cao.
  • Cơ cấu lại ngành công nghiệp, tập trung vào công nghiệp chế biến nông - thủy sản sâu, công nghiệp phụ trợ nông nghiệp; thúc đẩy mô hình kinh tế tuần hoàn, kinh tế xanh và kinh tế số.
  • Giảm tiêu hao năng lượng và giảm phát thải khí nhà kính; phát triển năng lượng tái tạo (điện gió ven biển, điện mặt trời) tại Bạc Liêu, Cà Mau, Kiên Giang.
  • Đầu tư hoàn thiện hệ thống kết cấu hạ tầng thủy lợi, đê kè kiểm soát ngập và sạt lở bờ sông, bờ biển.
  1. Nhóm giải pháp tăng cường tác động lan tỏa:
  • Xây dựng TP. Cần Thơ trở thành trung tâm dịch vụ thương mại, trung tâm logistics hiện đại, đầu mối giao thương và chuyển giao khoa học công nghệ của cả vùng ĐBSCL.
  • Thúc đẩy lan tỏa thành quả kinh tế qua các chính sách giải quyết việc làm, đào tạo nghề, giảm nghèo bền vững và phân bổ nguồn lực công bằng giữa các địa phương.
  1. Nhóm giải pháp gia tăng mức độ liên kết kinh tế vùng:
  • Đổi mới thể chế và cơ chế điều phối liên kết vùng, phân định rõ chức năng chuyên môn hóa sản xuất giữa Cần Thơ, An Giang, Kiên Giang, Cà Mau nhằm tránh chồng chéo, cạnh tranh triệt tiêu.
  • Phát triển đồng bộ mạng lưới giao thông đường bộ cao tốc, đường thủy nội địa kết nối liên vùng và cảng biển nước sâu.
  • Thiết lập cơ chế chia sẻ thông tin dữ liệu kinh tế - xã hội, dữ liệu quan trắc tài nguyên nước và khí hậu giữa các địa phương trong vùng.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp mới về mặt lý luận

  • Hệ thống hóa, bổ sung và làm sáng tỏ cơ sở lý luận về nội hàm phát triển kinh tế bền vững đối với vùng kinh tế trọng điểm trong bối cảnh biến đổi khí hậu. Luận án đã mở rộng nội hàm phát triển bền vững truyền thống bằng việc tích hợp 4 thành tố gắn kết hữu cơ: tăng trưởng kinh tế nội tại, hiệu ứng cực tăng trưởng lan tỏa, mức độ liên kết không gian kinh tế vùng và năng lực thích ứng chủ động, giảm nhẹ biến đổi khí hậu.
  • Xây dựng được khung lý thuyết và bộ tiêu chí đánh giá phát triển kinh tế bền vững đặc thù cho vùng kinh tế trọng điểm theo cấu trúc chủ đề, lồng ghép các chỉ tiêu định lượng về môi trường, năng lượng, tổn thất thiên tai và liên kết không gian kinh tế.

Đóng góp mới về mặt thực tiễn

  • Ứng dụng quy trình tích hợp phương pháp Delphi - KAMET, phương pháp chuẩn hóa chỉ số và kiểm định tự tương quan không gian Moran's $I$ (qua phần mềm ROOKCASE) để đo lường, lượng hóa thực trạng phát triển kinh tế bền vững của vùng KTTĐ ĐBSCL giai đoạn 2013–2019.
  • Chỉ ra các bằng chứng thực nghiệm về sự suy giảm tương đối của tốc độ tăng trưởng GRDP, mức sụt giảm năng suất lao động và mức độ liên kết kinh tế không gian còn lỏng lẻo giữa 4 địa phương trong vùng.
  • Đề xuất hệ thống giải pháp toàn diện và khả thi đến năm 2030 theo 3 nhóm trụ cột: phát triển nội tại thích ứng biến đổi khí hậu, tăng cường sức hút - lan tỏa và đẩy mạnh liên kết kinh tế vùng, cung cấp luận cứ thực tiễn cho công tác điều phối phát triển vùng ĐBSCL.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của nghiên cứu

  • Do tác động của đại dịch COVID-19 trong giai đoạn 2020–2021, các chuỗi số liệu kinh tế - xã hội của vùng bị biến động bất thường, không phản ánh đúng quy luật vận động dài hạn và không được công bố đầy đủ, buộc luận án phải giới hạn chuỗi số liệu thực trạng ở giai đoạn 2013–2019.
  • Nguồn số liệu thống kê về tổn thất kinh tế do thiên tai và định lượng lượng phát thải khí nhà kính chi tiết ở cấp địa phương còn phụ thuộc vào các số liệu kế thừa từ các dự án, đề tài nghiên cứu liên quan mà chưa có hệ thống thống kê chính thức định kỳ.

Hướng nghiên cứu tiếp

  • Tiếp tục cập nhật chuỗi số liệu kinh tế - xã hội sau năm 2021 để đánh giá giai đoạn phục hồi sau đại dịch và kiểm định lại các chỉ số bền vững tổng hợp.
  • Mở rộng ứng dụng các mô hình kinh tế vĩ mô tích hợp (như mô hình GEMMES) để lượng hóa chi tiết hơn các kịch bản tổn thất kinh tế theo các mức nhiệt độ và nước biển dâng khác nhau cho từng ngành kinh tế cụ thể.

Giá trị tham khảo

Đối tượng thụ hưởng

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên và các nhà nghiên cứu thuộc các chuyên ngành Biến đổi khí hậu, Kinh tế phát triển, Quản lý kinh tế, Quản lý tài nguyên và môi trường, Địa lý kinh tế.
  • Giảng viên tại các trường đại học khối kinh tế, môi trường và khoa học xã hội làm tài liệu giảng dạy về kinh tế vùng và thích ứng biến đổi khí hậu.
  • Các cơ quan hoạch định chính sách, cơ quan quản lý nhà nước: Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Hội đồng Điều phối vùng ĐBSCL, UBND và các Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Tài nguyên và Môi trường của 4 tỉnh, thành phố Cần Thơ, An Giang, Kiên Giang, Cà Mau.

Phần nội dung đáng tham khảo

  • Bộ tiêu chí và quy trình đánh giá phát triển kinh tế bền vững vùng kinh tế trọng điểm (Chương 2): Cung cấp công cụ phương pháp luận hoàn chỉnh có thể vận dụng cho các vùng kinh tế trọng điểm khác.
  • Kết quả tính toán thực nghiệm chỉ số Moran's $I$ và phân tích định lượng thực trạng kinh tế - khí hậu (Chương 3): Cung cấp nguồn cơ sở dữ liệu thực chứng cho các nghiên cứu tiếp theo về ĐBSCL.
  • Nhóm giải pháp cơ cấu lại sản xuất thích ứng khí hậu và liên kết vùng (Chương 4): Là tài liệu tham khảo cho việc xây dựng quy hoạch tỉnh, quy hoạch vùng và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm.

Câu hỏi thường gặp

1. Vùng kinh tế trọng điểm vùng Đồng bằng sông Cửu Long gồm những địa phương nào và có vị thế gì?

Vùng KTTĐ ĐBSCL được thành lập năm 2009 theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ, bao gồm 4 tỉnh, thành phố: Cần Thơ, An Giang, Kiên Giang và Cà Mau. Vùng giữ vị trí là hạt nhân, cực tăng trưởng của toàn vùng ĐBSCL; là trung tâm lớn về sản xuất lúa gạo, nuôi trồng, đánh bắt và chế biến thủy sản xuất khẩu; giữ vai trò chuyển giao công nghệ sinh học, cung cấp giống, dịch vụ kỹ thuật nông nghiệp, năng lượng, du lịch và là đầu mối hội nhập kinh tế khu vực.

2. Thực trạng phát triển kinh tế của vùng KTTĐ ĐBSCL giai đoạn 2013–2019 bộc lộ những điểm yếu nào?

Giai đoạn 2013–2019, kinh tế vùng bộc lộ 3 điểm yếu lớn so với mức trung bình cả nước:

  • Tốc độ tăng trưởng GRDP bình quân hàng năm chỉ đạt 6,1%, thấp hơn mức 6,46% của cả nước.
  • GRDP bình quân đầu người năm 2019 đạt 54,60 triệu đồng/người, thấp hơn 13% so với trung bình cả nước.
  • Năng suất lao động giảm sút tương đối: từ mức cao hơn trung bình cả nước năm 2013 xuống thấp hơn 8% so với cả nước vào năm 2019. Tỷ lệ lao động qua đào tạo còn thấp và chuyển dịch cơ cấu công nghiệp còn chậm.

3. Theo kịch bản biến đổi khí hậu cập nhật năm 2021, nguy cơ ngập lụt do nước biển dâng tại các tỉnh trong vùng ra sao?

Theo kịch bản của Bộ Tài nguyên và Môi trường, khi mực nước biển dâng 100 cm, các tỉnh trong vùng chịu nguy cơ ngập lụt nghiêm trọng: Cà Mau có nguy cơ ngập cao nhất với 79,62% diện tích, tiếp theo là Kiên Giang với 75,68%, TP. Cần Thơ với 55,82% và An Giang có nguy cơ ngập thấp nhất trong vùng với 1,82% diện tích.

4. Luận án sử dụng phương pháp và công cụ toán học, thống kê nào để đánh giá tính bền vững và liên kết vùng?

Luận án kết hợp nhiều phương pháp định lượng cụ thể:

  • Phương pháp Delphi kết hợp quy tắc KAMET qua 3 vòng tham vấn, kiểm định mức độ đồng thuận bằng hệ số phù hợp Kendall ($W$).
  • Phương pháp chuẩn hóa Min-Max và tính toán chỉ số tổng hợp theo cấu trúc chủ đề.
  • Phương pháp kiểm định tự tương quan không gian Moran's $I$ sử dụng phần mềm chuyên dụng ROOKCASE để đánh giá mức độ tập trung và liên kết kinh tế không gian giữa các địa phương.
  • Phương pháp ma trận SWOT.

5. Hệ thống giải pháp phát triển kinh tế bền vững của vùng đến năm 2030 tập trung vào những trụ cột nào?

Luận án đề xuất 3 nhóm giải pháp trọng tâm:

  1. Nhóm giải pháp phát triển bền vững nội tại thích ứng với biến đổi khí hậu: Chuyển đổi mô hình nông nghiệp thuận thiên (thích ứng mặn - ngọt), phát triển công nghiệp chế biến sâu, giảm tiêu hao năng lượng, giảm phát thải khí nhà kính và đầu tư hạ tầng phòng chống thiên tai.
  2. Nhóm giải pháp tăng cường tác động lan tỏa: Xây dựng Cần Thơ thành hạt nhân dịch vụ, logistics và đào tạo; lan tỏa thành quả phát triển qua chính sách việc làm và giảm nghèo.
  3. Nhóm giải pháp gia tăng mức độ liên kết kinh tế vùng: Đổi mới thể chế điều phối vùng, phát triển hạ tầng giao thông kết nối đồng bộ và chia sẻ dữ liệu liên tỉnh.

Kết luận

Luận án tiến sĩ "Phát triển kinh tế bền vững vùng kinh tế trọng điểm vùng Đồng bằng sông Cửu Long trong bối cảnh biến đổi khí hậu" của tác giả Tạ Văn Trung đã giải quyết hoàn chỉnh vấn đề nghiên cứu cả về mặt lý luận, phương pháp luận và thực tiễn ứng dụng. Tác phẩm đã làm rõ nội hàm phát triển kinh tế bền vững đối với vùng kinh tế trọng điểm gắn với năng lực thích ứng khí hậu, đồng thời thiết lập bộ tiêu chí định lượng khoa học thông qua phương pháp Delphi - KAMET và kiểm định không gian Moran's $I$. Kết quả nghiên cứu đã lượng hóa bức tranh thực trạng phát triển kinh tế giai đoạn 2013–2019 của 4 tỉnh, thành phố Cần Thơ, An Giang, Kiên Giang, Cà Mau, chỉ ra các nguyên nhân hạn chế về năng suất lao động và liên kết vùng. Hệ thống 3 nhóm giải pháp đề xuất đến năm 2030 là nguồn tài liệu tham khảo có giá trị khoa học và giá trị ứng dụng cao cho các nhà quản lý, nhà nghiên cứu và cơ quan hoạch định chính sách phát triển vùng ĐBSCL.