Đặt vấn đề - Mục tiêu nghiên cứu - Nội dung nghiên cứu - Tổng quan tài liệu - Nguyên liệu và phƣơng pháp nghiên cứu o Nguyên liệu, phụ liệu và phụ kiện o Mẫu vẽ body o Phƣơng pháp nghiên cứu 2. Kết luận và kiến nghị ---------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------- Trang 16 of 71 Luan van TS. Nguyễn Phước Sơn, ThS. Nguyễn Thị Tuyết Trinh - ĐỀ TÀI KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP TRƢỜNG TRỌNG ĐIỂM ----------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------- CHƢƠNG 1 - HIỆN TRẠNG NGÀNH DỆT MAY VIỆT NAM 1.
Ngành xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam và vấn đề nghiên cứu Ngành dệt may Việt Nam, từ năm 1990 đến nay, đã phát triển mạnh mẽ và ngày càng đóng vai trò quan trọng trong quá trình tăng trƣởng của nền kinh tế. Trong tất cả các mặt hàng công nghiệp xuất khẩu hiện nay, dệt may Việt Nam là ngành có kim ngạch xuất khẩu và tốc độ tăng trƣởng lớn nhất. Năm 2010, với giá trị xuất khẩu lên tới 11,2 tỷ đô la dệt may Việt Nam đã đóng góp trên 16% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nƣớc. Thị trƣờng xuất khẩu hàng dệt may chủ yếu của Việt Nam là Hoa Kỳ, EU, và Nhật Bản (Phụ lục 1).
Thị phần của Việt Nam trên thế giới giai đoạn 2005-2008 tăng từ 1,7% lên 2,5%, thuộc nhóm 5 quốc gia có quy mô xuất khẩu dệt may lớn nhất thế giới1. Ngành dệt may hiện sử dụng trên 3 triệu lao động - trong đó hơn 1,3 triệu lao động công nghiệp, chiếm tỉ trọng trên 10% so với lao động công nghiệp cả nƣớc2, với những thành tựu này, dệt may Việt Nam đang là ngành công nghiệp quan trọng cho sự phát triển của đất nƣớc. Mặc dù kim ngạch xuất khẩu lớn và liên tục tăng từ năm 2000 cho đến nay (Phụ lục 2) nhƣng hiệu quả xuất khẩu của ngành dệt may vẫn còn thấp. Theo báo cáo tổng kết hoạt động của ngành dệt may giai đoạn 2007-2010 do Hiệp hội dệt may Việt Nam công bố tháng 11/2010, hiện nay tỷ lệ xuất khẩu hàng may mặc theo phƣơng thức gia công CMT3 chiếm đến 60%, xuất khẩu theo phƣơng thức FOB4 chỉ khoảng 38%, và còn lại xuất khẩu theo phƣơng thức ODM5 chỉ có 2%.
Chính vì vậy, giá trị gia tăng của các sản phẩm dệt may xuất khẩu còn thấp, chỉ khoảng 25% so với kim ngạch xuất khẩu, tỷ suất lợi nhuận chỉ khoảng 5-10%6, và phải nhập khẩu đến 70-80% nguyên phụ liệu. Chi phí đầu vào tăng đang ảnh hƣởng đến lợi thế cạnh tranh của ngành dệt may Việt Nam hiện nay. Giá xăng, giá điện tăng cao ảnh hƣởng trực tiếp tới sản xuất của doanh nghiệp và đời sống của ngƣời lao động. Tình hình thiếu điện, cắt điện diễn ra thƣờng xuyên khiến doanh nghiệp trong ngành không thể chủ động kế hoạch sản xuất kinh doanh.
Giá bông, vải và nguyên phụ liệu dệt may khác đang tăng mạnh trong khi các doanh nghiệp không chủ động đƣợc nguồn nguyên phụ liệu này đã gây khó khăn lớn cho doanh nghiệp sản xuất may mặc Việt Nam. Ngoài ra, những bất ổn kinh tế vĩ mô trong những năm gần đây đang ảnh hƣởng xấu đến ngành dệt may Việt Nam. Đặc biệt là các vấn đề về sự bất ổn định tỷ giá, lạm phát và lãi suất tăng cao gây ra rất nhiều trở ngại cho hoạt động của các doanh nghiệp trong ngành. ----------------------------------------------------------------------------------------------------------- 1 Đặng Tiến (2011), “Cách đột phá nào để trở thành mũi nhọn kinh tế”, Cổng giao tiếp điện tử hiệp hội dệt may Việt Nam, truy cập ngày 22/2/2011, tại địa chỉ: http://laodong.vn/Tin-tuc/Cach-dot-pha- nao-de-tro-thanh-mui-nhon-kinh-te/31858 2 Vũ Đức Giang (2011), Chủ tịch VITAS, website Hiệp hội dệt may VN, truy cập ngày 21/3/2011 ---------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------- Trang 17 of 71 Luan van TS.
Nguyễn Phước Sơn, ThS. Nguyễn Thị Tuyết Trinh - ĐỀ TÀI KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP TRƢỜNG TRỌNG ĐIỂM ----------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------- 3 CMT là hình thức xuất khẩu đơn giản nhất chỉ thực hiện gia công theo mẫu thiết kế, nguyên liệu mà khách hàng cung cấp, xem thêm về các phương thức xuất khẩu hàng may mặc ở phụ lục 3 4 FOB là hình thức xuất khẩu bậc cao hơn CMT, các nhà sản xuất tự chủ động phần nguyên liệu đầu vào 5 ODM là hình thức xuất khẩu cao nhất, các nhà sản xuất bán sản phẩm theo mẫu thiết kế và thương hiệu riêng của họ 6 Báo cáo Hiệp hội dệt may Việt Nam 2010 ----------------------------------------------------------------------------------------------------------- Bên cạnh đó, đòi hỏi của các ngƣời mua trên thế giới ngày cao về chất lƣợng sản phẩm, chi phí sản xuất và thời gian giao hàng. Xu hƣớng mua hàng của các nhà nhập khẩu lớn trên thế giới đang thay đổi, các nhà mua hàng lớn tại Mỹ, Nhật Bản và các nƣớc châu Âu muốn chọn những doanh nghiệp có khả năng sản xuất trọn gói, từ kéo sợi, dệt vải cho đến cắt, may sản phẩm cuối. Từ những phân tích ở trên, có thể thấy ngành dệt may Việt Nam đang đứng trƣớc sức ép phải thay đổi để tồn tại và phát triển, do đó việc thâm nhập sâu rộng vào chuỗi giá trị toàn cầu là hết sức cần thiết để ngành dệt may nâng cao sức cạnh tranh trên thị trƣờng thế giới và nâng cao giá trị xuất khẩu.
Nghiên cứu này sẽ ứng dụng khung phân tích về chuỗi giá trị kết hợp với phƣơng pháp phỏng vấn sâu các chuyên gia để định vị vị trí của ngành dệt may Việt Nam hiện nay trong chuỗi giá trị dệt may toàn cầu, từ đó đánh giá những lợi thế và bất cập trong hoạt động sản xuất và xuất khẩu của ngành để khuyến nghị các giải pháp và chính sách nhằm dịch chuyển ngành dệt may Việt Nam sang các mắt xích có giá trị gia tăng cao hơn, qua đó nâng cao giá trị xuất khẩu và vị thế của ngành dệt may Việt Nam trong chuỗi giá trị dệt may toàn cầu. Điều này rất có ý nghĩa trong bối cảnh nhập siêu của nền kinh tế Việt Nam hiện nay. Lý thuyết về chuỗi giá trị và chuỗi giá trị dệt may toàn cầu Theo tài liệu nghiên cứu về chuỗi giá trị của Kaplinsky (2000), chuỗi giá trị bao gồm các hoạt động cần thiết của một chu trình sản xuất sản phẩm hoặc dịch vụ kể từ giai đoạn nghiên cứu sáng chế, qua các giai đoạn khác nhau của quá trình sản xuất, phân phối đến ngƣời tiêu dùng cuối cùng, cũng nhƣ xử lý rác thải sau khi sử dụng. Nhƣ vậy có thể hiểu về chuỗi giá trị là tập hợp các giá trị đƣợc tạo ra từ các giai đoạn của quá trình sản xuất một sản phẩm hay dịch vụ, từ khâu nghiên cứu phát triển, thiết kế, cung cấp đầu vào, sản xuất, marketing và phân phối tới ngƣời tiêu dùng cuối cùng.
Nếu một chuỗi giá trị của một sản phẩm hay dịch vụ diễn ra qua nhiều nƣớc trên phạm vi toàn cầu thì chuỗi giá trị đó đƣợc gọi là chuỗi giá trị toàn cầu. Từ lý thuyết về chuỗi giá trị, Gereffi (2001) đã xây dựng lý thuyết về chuỗi cung ứng, ông cho rằng có hai yếu tố liên quan đến việc tạo ra giá trị hay quyết định dạng chuỗi cung ứng của một ngành. Thứ nhất là chuỗi cung ứng do phía cung tạo ra. Đây là những chuỗi hàng hóa mà trong đó tác nhân chính các nhà sản xuất lớn, thƣờng là những nhà sản xuất xuyên quốc gia hợp nhất theo chiều dọc đóng vai trò trung tâm trong việc phối hợp các mạng lƣới sản xuất quốc tế.
Các ngành công nghiệp thâm dụng ---------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------- Trang 18 of 71 Luan van TS. Nguyễn Phước Sơn, ThS. Nguyễn Thị Tuyết Trinh - ĐỀ TÀI KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP TRƢỜNG TRỌNG ĐIỂM ----------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------- vốn và công nghệ nhƣ sản xuất xe hơi, máy bay, điện tử là đặc trƣng của chuỗi cung ứng do phía cung quyết định. Thứ hai là chuỗi cung ứng do phía cầu hay ngƣời mua quyết định.
Đây là đặc trƣng của những ngành công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng thâm dụng lao động nhƣ ngành may mặc, giày dép, và các hàng thủ công khác. Các nhà bán lẻ lớn, các nhà buôn và các nhà sản xuất có thƣơng hiệu là những tác nhân chính đóng vai trò cốt yếu trong việc hình thành các mạng lƣới sản xuất đƣợc phân cấp tại nhiều quốc gia xuất khẩu. Đặc điểm chính của chuỗi giá trị do ngƣời mua quyết định là sự hợp nhất theo mạng lƣới để thúc đẩy sự phát triển của các khu chế xuất và thực hiện thuê gia công toàn cầu của các nhà bán lẻ. Ngành dệt may là một minh họa kinh điển của chuỗi giá trị do ngƣời mua quyết định, việc tạo ra sản phẩm cuối cùng phải qua nhiều công đoạn và hoạt động sản xuất thƣờng đƣợc tiến hành ở nhiều nƣớc.
Trong đó các nhà sản xuất với thƣơng hiệu nổi tiếng, các nhà buôn, nhà bán lẻ lớn đóng vai trò then chốt trong việc thiết lập mạng lƣới sản xuất và định hình việc tiêu thụ hàng loạt thông qua các thƣơng hiệu mạnh và sự phụ thuộc của chúng vào những chiến lƣợc thuê gia công toàn cầu nhằm thỏa mãn nhu cầu này (Gereffi, 1999). Theo kết quả nghiên cứu về chuỗi giá trị dệt may toàn cầu của Gereffi và Memodovic (2003) có thể phân chia chuỗi giá trị dệt may làm năm phân khúc chính theo Hình 1. ---------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------- Trang 19 of 71 Luan van TS. Nguyễn Phước Sơn, ThS.
Nguyễn Thị Tuyết Trinh - ĐỀ TÀI KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP TRƢỜNG TRỌNG ĐIỂM ----------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------- Hình 1. Chuỗi giá trị dệt may toàn cầu Các công ty dệt Các nhà sản xuất hàng may Các nhà bán lẻ Bắc Mỹ Tất cả các nhà bán lẻ Các nhà máy may mặc Các cửa hàng Mỹ (thiết kế, cắt, may, tổng hợp đơm nút, ủi) Các công ty Sợi (dệt may mặc có Các cửa hàng đan, thƣơng hiệu Sợi thiên Bông, Dệt len, đặc hiệu hoàn tất) nhiên len, lụa. dệt kim Các nhà thầu phụ trong nƣớc, Mexico và vùng vịnh Caribe Các chuỗi hàng hóa đại Châu Á Các văn phòng Dầu, khí Các nhà thầu phụ mua hàng hải Các chuỗi Sợi tổng thiên Hóa dầu Sợi tổng may mặc châu Á ngoại chiết khấu hợp nhiên hợp Tất cả Điểm bán giá các riêng, điểm Các công ty Các nhà thầu phụ nội nhà bán trực tiếp thƣơng mại địa và hải ngoại của nhà máy, đơn hàng qua Mạng lƣới nguyên liệu thô Mạng lƣới nguyên phụ liệu Mạng lƣới sản xuất Mạng lƣới xuất khẩu Mạng lƣới tiếp thị Nguồn: Gereffi và Memodovic, 2003 Ứng dụng lý thuyết đƣờng cong nụ cƣời, các nhà nghiên cứu đã biểu diễn chuỗi giá trị dệt may thế giới hiện nay gồm 5 mắt xích chính nhƣ trong Hình 2.