Chương 1: Cơ sở lý luận về phát triển các khu công nghiệp theo hướng bền vững. Chương 2: Thực trạng phát triển các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa theo hướng bền vững. Chương 3: Giải pháp phát triển các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa theo hướng bền vững. 7 CHƢƠNG 1 “CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN CÁC KHU CÔNG NGHIỆP THEO HƢỚNG BỀN VỮNG” 1.“Những vấn đề lý luận cơ bản về khu công nghiệp” 1.
Khái niệm chung về khu công nghiệp 1. Khái niệm khu công nghiệp Theo các thuật ngữ tiếng Anh, “KCN thường được biểu đạt bằng các cụm từ: Industrial Estates, Industrial Zone (IZ); Export processing zone (EPZ) hay Industry Park (IP) đây là khái niệm được phổ biến rộng rãi ở nhiều nước trên thế giới để chỉ một khu vực tập trung các cơ sở sản xuất khu công nghiệp.” Khái niệm về KCN ở các quốc gia là không đồng nhất, tuy nhiên tấ t cả đề u có điểm chung là: “một khu đất được phân chia ranh rới rõ ràng và phát triển có hệ thống theo một quy hoạch tổng thể nhằm cung cấp địa điểm cho các ngành công nghiệp tương hợp với cơ sở hạ tầng, các tiện ích công cộng và các dịch vụ phục vụ, hỗ trợ cho ngành công nghiệp đó.” Ở Việt Nam cũng đã có các quan niệm khác nhau về KCN. Trong những thập niên 60 và 70 của thế kỉ trước, chính phủ đã thành lập nhiều KCN theo mô hình của Liên Xô cũ, các KCN này tập trung ở một số điạ phương thuô ̣c khu vực phía Bắc như: KCN Thượng Đình, Yên Viên - Đức Giang (Hà Nội), KCN Thái Nguyên (Thái Nguyên), KCN Việt Trì (Phú Thọ)…. Các KCN này ra đời là kết quả của việc xây dựng các doanh nghiệp riêng rẽ nhưng có vị trí khá gần với nhau.
“Do không có ranh giới địa lý rõ ràng nên về khái niệm các KCN trước đây thường được hiểu đơn giản chỉ là nơi tập trung nhiều doanh nghiệp sản xuất công nghiệp”. (Vũ Thành Hưởng, 2010) Theo“nghị định số 29/2008/NĐ-CP ngày 14/03/2008 của Chính phủ quy định về KCN, KCX và KKT”thì KCN được xác định là: “Khu chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ phục vụ cho sản xuất công nghiệp, có 8 ranh giới địa lý xác định, được thành lập theo các điều kiện, trình tự và thủ tục quy định tại Nghị định này”. Ngoài ra, tại Nghị định này và Nghị định 164/2013/NĐ-CP về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 29/2008/NĐ-CP cũng đã quy định một số khái niệm khác liên quan đến KCN bao gồm: KCX là KCN“chuyên sản xuất hàng hóa xuất khẩu, thực hiện dịch vụ phục vụ cho sản xuất hàng hóa để xuất khẩu và hoạt động xuất khẩu, có ranh giới địa lý xác định, được thành lập theo điều kiện, trình tự và thủ tục áp dụng đối với KCN quy định tại nghị định này.” “Diện tích đất công nghiệp”là “diện tích của KCN để cho nhà đầu tư thuê, thuê lại thực hiện dự án đầu tư sản xuất, kinh doanh trong KCN, được xác định trong quy hoạch chi tiết xây dựng KCN được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt.” Tỷ lệ lập đầy của khu công nghiệp “là tỷ lệ phần trăm (%) của diện tích đất công nghiệp đã được cho nhà đầu tư thuê, thuê lại để hoạt động sản xuất kinh doanh trên tổng diện tích đất công nghiệp của khu công nghiệp.” Quy hoạch tổng thể“phát triển KCN trên phạm vi cả nước là quy hoạch được lập và phê duyệt theo quy định của pháp luật về lập, phê duyệt và quản lý quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, của cả nước.” Tóm lại, trong luận văn này KCN được hiểu là: “một vùng lãnh thổ của quốc gia, được xác lập ranh giới rõ ràng, được xây dựng hạ tầng phù hợp cho sản xuất công nghiệp, không bao gồm dân cư sinh sống bên trong và được thành lập theo quy định của nhà nước. Đặc điểm của các khu công nghiệp KCN là “một không gian lãnh thổ công nghiệp luôn luôn gắn liền phát triển công nghiệp với xây dựng cơ sở hạ tầng, hình thành các mạng lưới đô thị và phân bố dân cư hợp lý.
KCN có những đặc điểm chính sau đây:” - KCN có “các chính sách kinh tế đặc thù, ưu đãi, nhằm thu hút vốn đầu tư trong nước và nước ngoài, tạo môi trường đầu tư thuận lợi, hấp dẫn cho phép các 9 nhà đầu tư sử dụng những phạm vi đất đai nhất định trong khu công nghiệp để thành lập các nhà máy, xí nghiệp, các cơ sở kinh tế, dịch vụ với những ưu đãi về thủ tục xin phép và thuê đất (giảm hoặc miễn thuế).” - Nguồn vốn “để xây dựng cơ sở hạ tầng KCN chủ yếu thu hút từ các nhà đầu tư nước ngoài hay các tổ chức, cá nhân trong nước. Ở một số nước, Chính phủ thường bỏ vốn ra xây dựng cơ sở hạ tầng như san lấp mặt bằng, làm đường giao thông. Còn tại Việt Nam thì Nhà nước không có đủ vốn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng. Chính vì vậy, việc đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng KCN được hiểu là tiến hành kêu gọi vốn đầu tư trong nước và nước ngoài kể cả xây dựng cơ sở hạ tầng.” - Mọi “hoạt động kinh tế trong các KCN trực tiếp chịu sự chi phối của cơ chế thị trường, diễn biến của thị trường trong nước và quốc tế.
Bởi vậy, các cơ chế quản lý kinh tế trong KCN lấy sự điều tiết của thị trường làm chính.” - KCN thường “có vị trí địa lý xác định nhưng không hoàn toàn”biệt lập như KCX.“Các chế độ quản lý hành chính, các quy định liên quan đến ra, vào KCN và quan hệ với doanh nghiệp bên ngoài sẽ rộng rãi hơn nhiều.”Hoạt động trong KCN sẽ“là các tổ chức pháp nhân và các cá nhân trong và ngoài nước tiến hành theo các điều kiện hoàn toàn bình đẳng.” - KCN “là một mô hình tổng hợp phát triển kinh tế với nhiều thành phần kinh tế và nhiều hình thức sở hữu khác nhau cùng tồn tại song song: các loại hình doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài dưới các hình thức hợp đồng, hợp tác kinh doanh, doanh nghiệp với 100% vốn nước ngoài, doanh nghiệp liên doanh, doanh nghiệp hợp danh và cả doanh nghiệp 100% vốn trong nước. Tác động của khu công nghiệp đối với phát triển kinh tế, xã hội 1. Tác động tích cực a. Tạo động lực thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước “KCN đã huy động được lượng vốn đầu tư lớn của các thành phần kinh tế trong và ngoài nước phục vụ cho sự nghiệp Công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
10 Hàng năm, lượng vốn đầ u tư trực tiế p nước ngoài (FDI) chảy vào các KCN chiếm từ 35-40% tổng vốn đăng ký tăng thêm của cả nước; tính riêng trong lĩnh vực công nghiệp thì chiếm gần 80%.” Bên cạnh đó, các KCN“cũng đã tạo ra một hệ thống kết cấu hạ tầng tương đối đồng bộ, có giá trị lâu dài, góp phần hiện đại hóa hệ thống kết cấu hạ tầng trên cả nước. Là nơi để tiếp“nhận chuyển giao công nghệ hiện đại và phương pháp quản lý tiên tiến của các nước phát triển” Song song“với viê ̣c thu hút vố n đầ u tư trưc tiế p nước ngoài thì các KCN còn thực hiê ̣n nhiê ̣m vu ̣ tiế p thu các công nghê ̣ hiê ̣n đa ̣i , kinh nghiê ̣m quản lý từ các nhà đầ u tư nước ngo ài. Do có kết cấu hạ tầng hiện đại hơn và cơ chế quản lý thông thoáng hơn so với mă ̣t bằ ng chung của cả nước nên các KCN là nơi tập trung các doanh nghiệp sản xuất, chế biến công nghiệp có vố n đầ u tư nước ngoài , sử du ̣ng các công nghê ̣ tiên ti ến trên thế giới .”Hiê ̣n nay , có hiều hình thức để triển khai hoạt đô ̣ng chuyển giao công nghệ : đào tạo công nhân điạ ph ương để đáp ứng yêu cầ u làm chủ công nghệ thiết bị, máy móc, dây chuyề n sản xuất; đưa máy móc hiện đại sang để tiến hành sản xuất nhằm mục đích tạo năng sất lao động cao. Các công ty ở các KCN có thể chuyển giao một số công nghệ mới vào giúp đỡ kỹ thuật cho các nhà cung cấp địa phương hoặc các công ty sản xuất chi tiết sản phẩm của KCN.“Bên cạnh đó, các doanh nghiệp KCN còn thu hút một lượng lớn người lao động Việt Nam vào các vị trí quản lý doanh nghiệp quan trọng,”lực lươ ̣ng lao động này “được tiếp xúc với phương thức quản lý tiên tiến, kỹ năng marketing, quản lý tài chính, tổ chức nhân sự.
Góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tích cực Ở “các nước đang phát triển thì việc đầu tư xây dựng và phát triển các KCN được coi là phương thức chính để thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế theo hướng tăng dần tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ, giảm dần tỷ trọng nông nghiệp. Không nằm ngoài xu thế chung đó, các KCN ở Việt Nam có đóng góp không nhỏ vào tăng trưởng ngành sản xuất công nghiệp, nâng cao giá trị xuất khẩu và sức cạnh 11 tranh của nền kinh tế; góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế của các địa phương và cả nước theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Đẩy nhanh quá trình đô thị hóa Quá trình “xây dựng kết cấu hạ tầng bên trong KCN thường đi cùng với việc phát triển và hoàn thiện hệ thống kết cấu hạ tầng bên ngoài KCN để tạo nên sự liên thông giữa KCN với các vùng kinh tế lân cận nhằm đảm bảo được sự hỗ trợ dịch vụ từ khu vực bên ngoài cho KCN, đồng thời cũng định hướng cho quy hoạch phát triển các khu dân cư mới, các khu đô thị vệ tinh, hình thành các ngành công nghiệp hỗ trợ, dịch vụ, góp phần rút ngắn khoảng cách chênh lệch về phát triển giữa thành thị và nông thôn, đẩy nhanh quá trình đô thị hóa và hiện đại hóa nông nghiệp. Tạo công ăn viê ̣c làm , phát triển nguồn nhân lực và xóa đói giảm nghèo cho địa phương Sau khi các KCN “đi vào hoa ̣t đô ̣ng sẽ thu hút một lực lượng lớn lao động vào làm việc trong các doanh nghiê ̣p KCN , trong đó có nhiề u lao đô ̣ng ta ̣i điạ phương , qua đó góp phần tăng thu nhập cho người dân , xóa đói giảm nghèo cho các hộ gia đình tại địa phương .