Chương 1: Những vấn đề chung về hoạt động bảo lãnh của ngân hàng thương mại. Chương 2: Thực trạng phát triển hoạt động bảo lãnh tại ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vương. Chương 3: Một số giải pháp nhằm phát triển hoạt động bảo lãnh ngân hàng tại Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng. Luan van CHƢƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ BẢO LÃNH CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI.
Những vấn đề cơ bản của hoạt động bảo lãnh NHTM. Khái niệm bảo lãnh ngân hàng - Khái niệm bảo lãnh. Trong pháp luật dân sự ở nước ta, khái niệm bảo lãnh được quy định cụ thể tại Bộ luật Dân sự số 91/2015/QH13 ngày 24 tháng 11 năm 2015 như sau: “Bảo lãnh là việc người thứ ba (sau đây được gọi là bên bảo lãnh) cam kết với bên có quyền (sau đây gọi là bên nhận bảo lãnh) sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho bên có nghĩa vụ (sau đây gọi là bên được bảo lãnh), nếu khi đến thời hạn thực hiện nghĩa vụ mà bên được bảo lãnh không thực hiện được hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ. Các bên có thể thỏa thuận về việc bên bảo lãnh chỉ phải thực hiện nghĩa vụ thay cho bên được bảo lãnh trong trường hợp bên được bảo lãnh không có khả năng thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh.
- Khái niệm bảo lãnh ngân hàng. Theo Luật các tổ chức tín dụng Việt Nam 2010 có quy định: “Bảo lãnh ngân hàng là hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng cam kết với bên nhận bảo lãnh về việc tổ chức tín dụng sẽ thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng khi khách hàng không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ đã cam kết; khách hàng phải nhận nợ và hoàn trả cho tổ chức tín dụng theo thỏa thuận”. Theo Thông tư số 07/2015/TT-NHNN ngày 25/06 /2015 quy định về bảo lãnh ngân hàng như sau: “Bảo lãnh ngân hàng là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên bảo lãnh cam kết với bên nhận bảo lãnh về việc sẽ thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho bên được bảo lãnh khi bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ đã cam kết với bên nhận bảo lãnh; bên được bảo lãnh phải nhận nợ và hoàn trả cho bên bảo lãnh”. Luan van Như vậy một giao dịch bảo lãnh ngân hàng bao giờ cũng liên quan đến ít nhất ba bên tham gia: bên bảo lãnh, bên được bảo lãnh và bên nhận bảo lãnh.
Đinh Xuân Trình (2012) Các bên tham gia bảo lãnh được giới thiệu như sau: “Bên bảo lãnh - The Guarantor: Là bên phát hành thư bảo lãnh (ngân hàng) theo yêu cầu của khách hàng và thường là các Ngân hàng Thương mại được thành lập và hoạt động theo Luật các tổ chức tín dụng, dùng uy tín và năng lực tài chính của mình để đứng ra cam kết sẽ thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng nếu khách hàng không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ đã cam kết với bên nhận bảo lãnh. Bên được bảo lãnh – The Principal: Là bên đề nghị Ngân hàng phát hành thư bảo lãnh và là khách hàng của ngân hàng. Bên được bảo lãnh là các cá nhân, tổ chức có đủ điều kiện được ngân hàng bảo lãnh và cam kết thực hiện thay nghĩa vụ khi vi phạm hợp đồng với đối tác của mình. Bên nhận bảo lãnh - The Beneficiary: Là bên được Ngân hàng bồi thường khi bên được bảo lãnh vi phạm hợp đồng.
bên nhận bảo lãnh là các cá nhân, tổ chức trong và ngoài nước có quyền thụ hưởng các cam kết bảo lãnh của tổ chức tín dụng. Ngoài ra, hoạt động bảo lãnh ngân hàng có thể có các bên liên quan khác như: bên bảo lãnh đối ứng, bên xác nhận bảo lãnh, các bên đồng bảo lãnh, bên bảo đảm cho nghĩa vụ của bên được bảo lãnh…”( GS.Đinh Xuân Trình, 2012, tr195) Luan van Bên bảo lãnh Bên được Bên nhận (1) bảo lãnh bảo lãnh Hình 1.1: Mối quan hệ giữa các bên trong bảo lãnh (Nguồn: Trích từ [11], tr.444) Trong đó: (1) : Biểu thị mối quan hệ gốc giữa các bên được bảo lãnh và bên nhận bảo lãnh được thể hiện bằng một hợp đồng gốc (underlying contract) (2) : Biểu thị mối quan hệ giữa bên được bảo lãnh với Bên bảo lãnh là Ngân hàng. Bên được bảo lãnh gửi đơn yêu cầu Ngân hàng phát hành thư bảo lãnh cho bên nhận. (3) : Biểu thị mối quan hệ giữa Ngân hàng và bên nhận bảo lãnh.
Ngân hàng Bảo lãnh phát hành thư bảo lãnh tới bên nhận bảo lãnh. Bên nhận bảo lãnh được bồi thường theo thư bảo lãnh từ Ngân hàng nếu bên được bảo lãnh vi phạm theo hợp đồng gốc. Nguyễn Văn Tiến và TS.Nguyễn Thị Hồng Hải, 2015, tr. Đặc điểm của bảo lãnh ngân hàng Bảo lãnh ngân hàng mang tính độc lập tương đối.
“Đây chính là đặc điểm nổi bật của hoạt động bảo lãnh – tính độc lập và tách biệt riêng với các quan hệ thương mại hay hợp đồng gốc. Mặc dù cơ sở để ngân hàng phát hành bảo lãnh là dựa vào nội dung của hợp đồng thương mại giữa bên được bảo lãnh và bên nhận bảo lãnh nhưng một khi đã được phát hành thì cam kết bảo lãnh lại độc lập và tách rời khỏi cơ sở hình thành nó. Mục đích của bảo lãnh ngân hàng là phòng ngừa rủi ro và bồi thường tổn Luan van thất cho bên nhận bảo và việc thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh không phụ thuộc vào bất kỳ yếu tố nào ngoài giao dịch bảo lãnh. Sở dĩ nói tính độc lập của bảo lãnh ngân hàng là tương đối bởi vì tùy từng trường hợp mà tính độc lập có thể cao hoặc thấp, nó phụ thuộc vào điều kiện đi kèm.
Nguyễn Văn Tiến và TS. Nguyễn Thị Hồng Hải, 2015, tr.444) Bảo lãnh ngân hàng là hình thức tài trợ thông qua uy tín và là một hoạt động ngoại bảng. Bản chất bảo lãnh ngân hàng là một hình thức tài trợ bằng uy tín của ngân hàng đối với khách hàng. Trong hoạt động bảo lãnh, các giao dịch giữa bên được bảo lãnh và bên nhận bảo lãnh được thực hiện là nhờ có sự cam kết của ngân hàng sẽ bồi thường cho bên nhận bảo lãnh nếu bên được bảo l ãnh vi phạm hợp đồng.
Với việc thực hiện bảo lãnh, ngân hàng đã tạo ra sự đảm bảo chắc chắn cho bên nhận bảo lãnh thông qua uy tín của chính ngân hàng đồng thời cũng tạo điều kiện cho bên được bảo lãnh ký hợp đồng với bên nhận bảo lãnh một cách thuận lợi hơn nhờ sự đảm bảo về uy tín của ngân hàng khi hai bên chưa thực sự tin tưởng lẫn nhau. Khi tiến hành cam kết thì ngân hàng chưa phải xuất quỹ tiền ngay nên không làm ảnh hưởng đến cơ cấu nguồn vốn và tài sản của ngân hàng nên nó được coi như là một hoạt động ngoại bảng. Tuy nhiên khi có rủi ro xảy ra thì ngân hàng phải thực hiện nghĩa vụ thay cho bên được bảo lãnh và lúc này ngân hàng phải thực sự xuất quỹ ra và nó trở thành một khoản cho vay thật sự đối với bên được bảo lãnh và không được theo dõi ở ngoại bảng. Ngoài ra Bảo lãnh Ngân hàng có một số đặc điểm như: Giao dịch bằng chứng từ và chỉ dựa trên chứng từ, Bảo lãnh ngân hàng là mối quan hệ nhiều bên, phụ thuộc lẫn nhau… Luan van 1.
Chức năng của bảo lãnh ngân hàng. Các tác giả trong cuốn Giáo Trình Thanh Toán Quốc Tế & Tài Trợ Ngoại Thương đã chỉ các chức năng của bảo lãnh ngân hàng như: Chức năng pháp lý, Chức năng thúc đẩy, Chức năng bồi thường, Công cụ tài trợ. Chức năng pháp lý. “Theo yêu cầu của bên người bán, NH phát hành thư bảo lãnh cho người mua hưởng, điều này hàm ý người bán đã thừa nhận nghĩa vụ thực hiện hợp đồng của mình.” Bảo lãnh ngân hàng được sử dụng như một công cụ tài trợ.
Không chỉ là công cụ đảm bảo đối với bên nhận bảo lãnh, bảo lãnh ngân hàng còn là công cụ tài trợ thực sự về mặt tài chính cho người được bảo lãnh. Trong nhiều trường hợp, nhờ có bảo lãnh ngân hàng mà người được bảo lãnh không phải xuất quỹ, được thu hồi vốn nhanh chóng, được vay nợ, hoặc được kéo dài thời gian thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ. Như vậy, mặc dù không trực tiếp cấp vốn nhưng với việc phát hành bảo lãnh, ngân hàng đã giúp khách hàng của họ được hưởng những thuận lợi về ngân quỹ như khi được cho vay thật sự. Với ý nghĩa này, bảo lãnh ngân hàng được coi là một trong những dịch vụ ngân hàng có ý nghĩa quan trọng, đáp ứng kịp thời các yêu cầu phát triển và mở rộng sản xuất kinh doanh, làm giảm bớt căng thẳng về nguồn vốn hoạt đọng của các doanh nghiệp.
Bảo lãnh được sử dụng như một công cụ để đôn đốc hoàn thành hợp đồng. “Khi người được bảo lãnh vi phạm hợp đồng đã cam kết thì người nhận bảo lãnh sẽ có quyền yêu cầu ngân hàng bảo lãnh thanh toán bất cứ khi nào trong suốt thời gian hiệu lực của bảo lãnh và ngân hàng có quyền đòi lại khoản tiền này từ người được bảo lãnh.” Vì vậy, về phía ngân hàng bảo lãnh, do luôn chịu áp lực của việc bồi hoàn bảo lãnh, cộng với uy tín của ngân hàng có thể bị ảnh hưởng nên ngân hàng sẽ thường xuyên kiểm tra, giảm sát, đốc thúc bên được bảo lãnh thực Luan van hiện hợp đồng đã kí kết. Còn về phía người được bảo lãnh luôn bị áp lực của việc phải bồi hoàn bảo lãnh nếu họ vi phạm hợp đồng dẫn đến người bảo lãnh phải trả thay, khi đó lãi suất áp dụng đối với khoản nhận nợ bên bảo lãnh luôn cao hơn lãi suất cho vay thông thường. Từ đó mà bảo lãnh ngân hàng đã tạo ra mối liên kết trách nhiệm tài chính và sản sẻ rủi ro giữa các bên tham gia bảo lãnh.
Nguyễn Văn Tiến và TS. Nguyễn Thị Hồng Hải, 2015, tr. Phân loại bảo lãnh ngân hàng. Phân loại theo hình thức sử dụng.
Bảo lãnh vô điều kiện (Unconditional Guarantee) Đây là loại bảo lãnh trong đó việc thanh toán sẽ được thực hiện ngay sau khi ngân hàng nhận được yêu cầu đầu tiên của người thụ hưởng và xem đó là một lệnh thanh toán không đòi hỏi phải có chứng từ kèm theo. Loại bảo lãnh này có tính độc lập cao nhất với các giao dịch khác kể cả hợp đồng cơ sở mà theo đó nó được phát hành. Người bảo lãnh không được viện dẫn bất cứ lý do gì để từ chối thanh toán.