Chương 1: Đảng bộ thành phố Hải Phòng lãnh đạo đổi mới Giáo dục phổ thông từ năm (2001 - 2007). Chương 2: Đảng bộ thành phố Hải Phòng tập trung đẩy mạnh phát triển sự nghiệp Giáo dục phổ thông (2008 -2014). Chương 3: Nhận xét và một số kinh nghiệm. 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1: ĐẢNG BỘ THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG LÃNH ĐẠO ĐỔI MỚI GIÁO DỤC PHỔ THÔNG (2001-2007) 1.
Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và thực trạng sự nghiệp giáo dục phổ thông của Thành phố trƣớc năm 2001. Lƣợc sử hình thành Hải Phòng là một vùng đất cổ có con người sinh sống từ lâu đời, lại là vùng đất lấn biển qua nhiều thế kỷ với lớp lớp cư dân khác nhau, ở Cái Bèo trên đảo Cát Bà các nhà khảo cổ đã gặp di chỉ của văn hoá Hạ Long. Bước vào giai đoạn Phùng Nguyên của thời đại đồ đồng có di chỉ Tràng Kênh với niên đại là 1455 ±100 năm trước cồng nguyên. Cũng ở đây đã tìm thấy phấn hoa của loại lúa nước Oryza.
Các bộ lạc sinh sống trên mảnh đất này là cư dân nông nghiệp trồng lúa. Đến giai đoạn Đông Sơn, có di chỉ mộ thuyền Việt Khê, tìm thấy 107 hiện vật, trong đó có 93 hiện vật đồng gồm công cụ sản xuất, vũ khí, nhạc khí. Hải Phòng còn là vùng đất được mở mang dần về sau này. Theo kết quả của nhiều nhà nghiên cứu về thủy văn và địa lý thì đường bờ biển thuở đầu công nguyên có hình răng cưa, nhiều chỗ đất liền nhô ra và nhiều nơi biển ăn sâu vào.
Đất lấn ra biển từ cuối đời Hán cho tới giữa đời Đường (thế kỷ III - VIII). Từ thế kỷ X đến XIX đất mở rộng dần về phía đông nam nhưng tốc độ chậm. Sự hình thành của khu vực nội thành Hải Phòng cũng là một quá trình chuyển đổi từ vùng đất nằm giữa kênh rạch thành xóm làng rồi trở thành thành phố. Thời Lý, Hải Phòng thuộc Hồng Lộ.
Thời Trần, Hồng Lộ lại gọi là Lộ Hải Đông. Thời Lê, Hải Phòng thuộc Hải Dương thừa tuyên, sau đổi là xứ, là trấn. Tên gọi Hải Phòng xuất hiện ở nửa sau thế kỉ XIX khi vua Tự Đức đặt Hải Dương thương chính quan phòng (gọi tắt là Hải Phòng) tức đồn quan phòng và kiểm soát thuế quan ở bến Ninh Hải. Tên gọi này sau được Giăng Đuy-puy ghi lại và trên lược đồ của Pháp năm 1874 cũng đã thấy ghi hai chữ Hải Phòng.
Nội thành Hải Phòng nằm ở phía tây đồn quân Ninh Hải xưa, trên các xã, tổng Đông Khê, An Dương, Gia Viên, An Biên. Cho nên, nhiều tên phố ở Hải Phòng ngày nay vẫn còn in dấu tên làng xã xưa như: Hàng Kênh, An Biên, Dư Hàng, Vĩnh Niệm, Niệm 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Nghĩa, Hạ Lý, Thượng Lý, Lạc Viên,. Quá trình hình thành lãnh thổ Hải Phòng là quá trình vươn ra biển cả, đắp đê sông, đê biển, là quá trình con người tận dụng những gì thiên nhiên ban tặng và bắt thiên nhiên mang lại. Vùng đất này đã nắm giữ một vị trí quan trọng của đất nước, án giữ mặt phía đông.
Một số cuộc xâm lược của nước ngoài cũng từ hướng này mà vào đất liền. Đất Hải Phòng ngày nay chính là vùng biển của Hải Dương cũ và là vành ngoài cùng của phên giậu phía đông của đất nước. Điều kiện tự nhiên Hải Phòng là thành phố lớn thứ ba của Việt Nam (sau thành phố Hồ Chí Minh và thủ đô Hà Nội), có tổng diện tích tự nhiên là 1.519,2 km2, gồm cả hai huyện đảo Cát Hải và Bạch Long Vĩ. Hải Phòng là trung tâm giao thông vận tải của toàn bộ khu vực phía Bắc, nối các tỉnh phía Bắc Việt Nam với thị trường thế giới qua hệ thống cảng biển.
Địa hình Hải Phòng đa dạng, bao gồm vùng biển - hải đảo, đồng bằng ven biển (có độ cao từ 0,7 - 1,7 m so với mực nước biển) và núi. Đặc điểm địa hình này tác động rõ nét tới sự phân bố dân cư (đông đúc ở thành phố, các thị xã, thị trấn, thưa thớt ở vùng núi, đảo,.) cũng như sự phân bố mạng lưới trường học các cấp. Mật độ dân số quá cao ở các quận nội thành như Lê Chân, Hồng Bàng đã ảnh hưởng tới vấn đề trường học, nhà ở, bệnh viện, vệ sinh môi trường,. Trong khi đó ở khu vực núi, hải đảo, dân cư thưa thớt, khó cho việc quy hoạch, thành lập trường lớp.
Mặt khác, ở những địa bàn xa, giao thông đi lại khó khăn như hai huyện đảo Cát Hải và Bạch Long Vĩ, việc học của học sinh có thể bị gián đoạn, nhất là vào mùa mưa bão, biển động. Hải Phòng là thành phố công nghiệp, có diện tích đất nông nghiệp không lớn, song có nhiều tiềm năng phát triển nông nghiệp và nông thôn theo hướng công nghiệp hoá nông nghiệp. Với tài nguyên biển và rừng, thành phố còn có điều kiện phát triển mạnh ngành du lịch và ngư nghiệp. Huyện đảo Cát Bà là trung tâm hội tụ nghề cá của các tỉnh trong vùng và cả nước.
Huyện đảo Bạch Long Vĩ nằm giữa vịnh Bắc Bộ, trữ lượng cá cho phép khai thác lớn, nguồn lợi hải sản phong phú, đa dạng. Đảo Bạch Long Vĩ cùng với đảo Cát Bà hình thành một tuyến đảo bổ sung và 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com hỗ trợ cho nhau trong chiến lược phát triển nghề đánh cá xa bờ của thành phố. Ngoài ra, trên năm nghìn ha mặt nước mặn xung quanh đảo Cát Bà, Bạch Long Vĩ có điều kiện môi trường thuận lợi để nuôi đặc sản biển với công nghệ cao. Sự phát triển mạnh của kinh tế thủy sản và du lịch đã ảnh hưởng lớn đến ngành GDĐT.
Trước hết, do đòi hỏi của nghề sông nước cần nhiều sức lao động, nhất là nam giới, nên tỉ lệ học sinh bỏ học để phụ giúp gia đình làm kinh tế biển ở vùng ven biển Hải Phòng cao. Với ngành du lịch biển, do đặc thù ngành hoạt động chủ yếu trong mùa hè nên tỉ lệ học sinh bỏ học tham gia làm du lịch không cao song đây cũng là một đặc điểm ngành GDĐT cần lưu tâm trong việc đào tạo nghề cho các em. Với vị trí địa lý và các đặc điểm điều kiện tự nhiên, với dân số và nguồn nhân lực, Hải Phòng có lợi thế để đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp và dịch vụ; hình thành và phát triển các doanh nghiệp theo hình thức liên doanh, liên kết với nước ngoài. Đặc biệt với ưu thế cảng biển hiện nay và trong tương lai, thành phố giữ vai trò to lớn đối với xuất nhập khẩu của vùng Bắc Bộ, có điều kiện tiếp nhận và ứng dụng nhanh các thành tựu GDĐT, khoa học - kỹ thuật và công nghệ, kỹ năng về quản lý từ nước ngoài một cách nhanh chóng.
Điều này tác động mạnh đến công tác quy hoạch đào tạo nguồn nhân lực phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của địa phương trong thời gian tới. Trong đó, thành phố cần chú ý tới đặc điểm ―hướng ngoại‖ (có cảng biển, sân bay) và yếu tố ―biển‖ để hoạch định chiến lược phát triển GDĐT phù hợp. Các đặc điểm kinh tế - xã hội Thực hiện chiến lược ổn định và phát triển kinh tế - xã hội thành phố giai đoạn mới, nhịp độ tăng trưởng GDP bình quân hàng năm tăng 10,0%; giá trị sản xuất công nghiệp tăng 22,7%, sản lượng hàng hoá thông qua cảng tăng 13,15%; thành phố đầu tư khoảng 6 nghìn tỉ đồng/năm cho phát triển kinh tế - xã hội. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng, giảm dần tỷ trọng nông, lâm, thủy sản và dịch vụ, phát huy thế mạnh công nghiệp, cảng biển, thương mại và hướng vào xuất khẩu.
Cơ sở hạ tầng, bộ mặt đô thị, nông thôn, hải đảo được đầu tư xây dựng, nâng cấp và cải thiện rõ rệt. Số hộ đói nghèo từ 18% năm 1995 đã giảm còn 5,8% năm 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Điều đó cũng có nghĩa là việc thực hiện quan điểm công bằng trong giáo dục của Đảng ở Hải Phòng ngày càng có điều kiện được quán triệt sâu rộng. Theo điều tra dân số năm 2003, dân số trung binh của Hải Phòng là 1.200 người, trong đó dân số thành thị chiếm 40% (701.
Số lao động làm việc trong các ngành kinh tế quốc dân là 911.860 người, trong đó 44,4 % tổng số lao động làm việc trong lĩnh vực công nghiệp và xây dựng; 15,9 % trong lĩnh vực giáo dục đào tạo; 0,5 % trong lĩnh vực khoa học - công nghệ. Về đặc trưng kinh tế - xã hội của dân số, Hải Phòng là địa phương có nhiều lợi thế so với nhiều tỉnh, thành phố trong cả nước. Công tác dân số - kế hoạch hoá gia đình được chú trọng về mọi mặt như: cơ sở vật chất kỹ thuật được tăng cường, phương thức hoạt động được đổi mới, hoạt động truyền thông dân số được triển khai đến tận xã, phường nên tỉ lệ sinh giảm đáng kể: từ 2,57% (1995) xuống 2,09% (2001) và còn 1,80% (2005). Các hoạt động văn hoá - nghệ thuật, thể dục - thể thao được tổ chức rộng rãi đến xã, phường với nội dung phong phú, hướng vào việc phát huy bản sắc dân tộc, truyền thống của địa phương và sự tham gia của cộng đồng vào các phong trào thể dục toàn dân, xây dựng các làng văn hoá, các hội thi hướng vào các chủ đề gia đình - xã hội, nếp sống văn minh.
Thành phố đã xây dựng được 16 thư viện, 190 nhà văn hoá, cùng các làng văn hoá được hình thành, đáp ứng yêu cầu nâng cao dân trí và tiến bộ xã hội. Các phương tiện thông tin đại chúng, nhất là phát thanh, truyền hình, báo chí tìm bước được nâng cấp, đầu tư hiện đại. Trên địa bàn thành phố có 23 bệnh viện, 24 phòng khám khu vực, 218 trạm y tế xã, phường và 734 cơ sở y tế tư nhân. Tất cả các trạm y tế xã, phường đều có bác sĩ, y sĩ.
Với những điều kiện tự nhiên, dân số, nguồn nhân lực, kinh tế - xã hội như trên, ngành GDĐT Hải Phòng nói chung, GDPT nói riêng có nhiều thuận lợi để phát triển, nhưng đồng thời cũng đứng trước nhiều thách thức. Một nhà báo của Báo Giáo dục và Thời đại khi về Hải Phòng đã viết: ―Thanh niên Hải Phòng nếu không cẩn thận chỉ còn đứng chống cuốc nhìn đồng ruộng của mình mỗi ngày một thu hẹp lại, nhìn từng đoàn người ở nơi khác, thậm chí ở nước khác đến để công 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.