phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, phụ lục, tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận của phát triển đội ngũ TBM trong cơ sở GDĐH đào tạo GV đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục. Chƣơng 2: Cơ sở thực trạng của phát triển đội ngũ TBM trong cơ sở GDĐH đào tạo GV đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục. Chƣơng 3: Một số giải pháp phát triển đội ngũ TBM trong cơ sở GDĐH đào tạo GV đáp ứng yêu cầu đổi mới GD. 10 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ TRƢỞNG BỘ MÔN TRONG CƠ SỞ GIÁO DỤC ĐẠI HỌC ĐÀO TẠO GIÁO VIÊN ĐÁP ỨNG YÊU CẦU ĐỔI MỚI GIÁO DỤC 1.
Tổng quan nghi n cứu vấn đề 1. Các nghi n cứu về định hướng và y u cầu phát triển cán bộ quản lý trường đại học Các nƣớc có nền GD ĐH phát triển nhƣ Hoa ỳ, Anh, Pháp, Đức, Nhật Bản, Singapore… luôn xem nhà giáo giảng dạy ĐH và cán bộ QL, LĐ nhà trƣờng và QLGD là yếu tố quyết định của sự nghiệp GD. QL phát triển nguồn nhân lực và đội ngũ cán bộ QL đã đƣợc rất nhiều trƣờng phái và tác giả quan tâm. Trƣờng phái QL theo quá trình, tiếp cận thông qua việc thực hiện các chức năng QL cho đến nay vẫn là trụ cột của lý luận QL.
Từ tiếp cận theo quá trình dẫn đến yêu cầu nhà QL phải có năng lực thực hiện các chức năng: H, tổ chức, chỉ đạo, phối hợp, kiểm tra [27]. Nhiều công trình nghiên cứu của các tác giả nhƣ: Henry Mintzberg [12] với những tƣ tƣởng hàng đầu về QL. J, Peter Drucke với những luận điểm lớn về tổ chức và LĐ QL [23], M.Ulrich [15], Edgar Morin [18] với những bàn luận về tƣơng lai của nghề quản trị nhân sự gợi ý những ý tƣởng quan trọng hình thành năng lực LĐ trong bối cảnh mới; sẽ là những định hƣớng quan trọng cho việc xác định tầm nhìn và phát triển phẩm chất năng lực của các nhà QLGD. Henry Mintzbeg [12] đã chỉ ra vai trò của nhà QL trong sự kết hợp giữa quyền hạn với trách nhiệm.
Họ vừa là ngƣời đại diện của tổ chức; ngƣời LĐ; ngƣời liên lạc; ngƣời tiếp nhận thông tin; ngƣời phổ biến thông tin; ngƣời phát ngôn; nhà doanh nghiệp; ngƣời khắc phục khó khăn; ngƣời phân phối nguồn lực; ngƣời đàm phán. Nghiên cứu gần đây nhất của Robert E. Quinn, ĐH Michigan; Sue R. Facerman, ĐH Bang New York tại Albany; Mintzberg H, Michael P.Thompson, ĐH Brigham Young; Michael R.Mc Grath, Bộ phận nhân sự quốc tế US (Master of Leadership and Management) [16], đi từ các tiếp cận khác nhau đã khái quát thành 4 mô hình QL: Mô hình mục tiêu, Mô hình quy trình nội bộ, Mô hình quan hệ con ngƣời, Mô hình hệ thống mở.
Các mô hình đó đòi hỏi đội ngũ LĐ QL phải thích ứng 11 và cần có các năng lực: Chỉ huy và thực hiện, Giám sát và điều phối, hƣớng dẫn và th c đẩy, môi giới và đổi mới. Tác giả Marke Anderson trong cuốn “ RINCI ALS How to train, recruit, selech ng trình, induch ng trình, and evaluate leaders for America’s school” khẳng định tầm quan trọng của ngƣời đứng đầu nhà trƣờng. Bản thân Marke Anderson có nhiều năm kinh nghiệm làm hiệu trƣởng các trƣờng ở Washington, ông nhấn mạnh tầm quan trọng của việc lựa chọn, giới thiệu, BD, tuyển dụng và đánh giá ngƣời LĐ của nhà trƣờng ĐH [51]. Hay nhƣ các tác giả Maheswari Kandasamy và Lia Blaton với tác phẩm “School principals: core ach ng trìnhors in educational improvement - An analysis of seven Asian cuontries” đã đánh giá tầm quan trọng của ngƣời hiệu trƣởng nhƣ là những “diễn viên chính” (core ach ng trìnhors) trong việc cải cách GD.
Trong ấn phẩm Educational Research and Innovation của OCED (2013) với nhan đề “Leadership for 21st Century Learning” với đóng góp nhiều tác giả nhƣ: Joan Badia, Clive Dimmock, Anna Jolonch, Dennis Kwek, John MacBeath, Metrius Martínez, James Spillane và Yancy Toh. [41] nhấn mạnh về môi trƣờng học tập, tƣ duy sáng tạo và đổi mới trong hoạt động LĐ nhà trƣờng. Ngƣời LĐ cũng cần phải không ngừng học tập và tạo ra môi trƣờng học tập. Trong đó đề cập đến kinh nghiệm phát triển LĐ nhà trƣờng ở Hoa Kỳ, Úc, Anh, Tây Ban Nha, Israel, Singapore, đến mô hình năng lực của ngƣời LĐ nhà trƣờng trong thế kỉ 21 đó là: năng lực thiết kế và sáng tạo; năng lực xây dựng chiến lƣợc phát triển nhà trƣờng; năng lực QL hoạt động GD; năng lực tổ chức và năng lực kiểm soát các hoạt động.
Các nƣớc trên thế giới nhƣ Hoa ỳ, Nhật Bản, Pháp, Đức, Trung Quốc, Singapore… luôn xem nhà giáo và cán bộ QLGD là yếu tố quyết định của sự nghiệp GD và phát triển GD [3]. Ở một số cách tiếp cận khác, những tác giả nhƣ Andrea Schleicher; Stephen Davis; Steve Farkas [44, 46, 53, 55, 56] và nhiều tác giả khác khẳng định tầm quan trọng của đội ngũ cán bộ LĐ và QLGD cũng nhƣ đội ngũ nhà giáo (teachers) trong nhà trƣờng ĐH, nhất là vai trò của ngƣời hiệu trƣởng nhà trƣờng, trƣởng khoa hoặc 12 phân khoa. Nhà giáo vừa là nhà chuyên môn vừa là ngƣời LĐ cũng đã đƣợc nhấn mạnh trong chuẩn nhà giáo của Australia, Nhật Bản, Hàn Quốc và nhiều nƣớc khác. Các quốc gia này cũng quan tâm đến việc đãi ngộ vật chất, điều kiện làm việc và địa vị xã hội cho nhà giáo và xem đây là một trong những giải pháp cơ bản nâng cao chất lƣợng đội ngũ nhà giáo và cán bộ QL trƣờng ĐH.
Từ các quan điểm về QL chất lƣợng, IBSTPI (2003) (International Board of Standards for Training Performance and Intruction) [48] đƣa ra năng lực nhà QL gồm 4 nhóm: Nền tảng cơ bản, Lên KH và Phân tích, Thiết kế và Phát triển, Kỹ năng và QL. Các tác giả Alma Harris, Daniel Muijs, Megan Crawford ở ĐH Warwick, Anh, trong báo cáo “Deputy and Assistant Heads: Building leadership potential” [38] đã chỉ rõ ở nhiều trƣờng học, khả năng LĐ, QL của ngƣời cấp phó và trợ lý thƣờng chƣa đƣợc quan tâm và phát huy. Họ đƣa ra các số liệu thống kê để chứng minh cho vấn đề này và xem đây là những thách thức của công tác xây dựng và phát triển đội ngũ LĐ, QL. Các tác giả Marke Anderson, ĐH Oregon[35]; Stephen Davis cùng các cộng sự ở Stanford Educational Leadership Institute [36]; Donald W.
Ray Fulton ở ĐH Misisiphƣơng phápi [42];… cũng có nhiều công trình nghiên cứu về phát triển LĐ và nhà QL trƣờng ĐH. Về chƣơng trình ĐT, BD cán bộ QLGD, ĐH Nam Florida đã quy định Chuẩn chƣơng trình ĐT cho nhà QLGD, QL trƣờng học là chƣơng trình tích hợp gồm mƣời một vùng kiến thức kỹ năng theo bốn lĩnh vực lớn: 1/ LĐ chiến lƣợc; 2/ LĐ tổ chức; 3/ LĐ GD; 4/ LĐ chính trị và cộng đồng. Chƣơng trình ĐT nhà LĐ trƣờng học theo các nhóm năng lực: năng lực SP, GD và thiết lập; năng lực kiểm soát; năng lực LĐ; năng lực tổ chức; năng lực tƣ vấn. chƣơng trình ĐT nhà LĐ, QLGD đặt yêu cầu ngƣời học phải đạt đƣợc các năng lực: năng lực LĐ, năng lực xã hội, năng lực cá nhân, năng lực GD, năng lực phát triển trƣờng học, năng lực tổ chức - QL; chuẩn chƣơng trình ĐT cán bộ QLGD cung cấp cho những ngƣời chuẩn bị làm LĐ các năng lực LĐ và QL [54].
Nhìn chung, với nhiều góc độ tiếp cận khác nhau, các nghiên cứu tập trung vào các vấn đề nhƣ: phƣơng pháp và cách thức tuyển chọn, bổ nhiệm cán bộ QL; BD cán bộ QL [54]. 13 Chỉ thị của Ban chấp hành Trung ƣơng Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng, nâng cao chất lƣợng đội ngũ nhà giáo và cán bộ QLGD đã nêu rõ: xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ QLGD đƣợc chuẩn hóa, ĐBCL, đủ về số lƣợng, đồng bộ về cơ cấu, đặc biệt chú trọng nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất, lối sống, lƣơng tâm, tay nghề của nhà giáo; thông qua việc QL, phát triển đ ng định hƣớng và có hiệu quả sự nghiệp GD để nâng cao chất lƣợng ĐT nguồn nhân lực, đáp ứng những đòi hỏi ngày càng cao của sự nghiệp CNH, HĐH đất nƣớc [1]. Vậy, đã có những thay đổi GD ĐH của ch ng ta nhƣ thế nào? Về mặt nghiên cứu có thể thấy rằng có rất nhiều nghiên cứu về vai trò, chức năng, nhiệm vụ của ngƣời cán bộ QLGD ĐH trong thời kỳ mới. Hầu hết các nghiên cứu đều chỉ ra rằng, nhà QL có vai trò rất quan trọng đối với quá trình hoạt động và phát triển của tổ chức, có thể điểm qua một số nghiên cứu: - Trong đề tài NCKH cấp Bộ “Xác định các tiêu chí xây dựng trƣờng ĐH Việt Nam theo chuẩn mực quốc tế” các tác giả Bùi Mạnh Nhị và Phạm Thị Ly (2009) xác định rõ thành công của các trƣờng ĐH đẳng cấp quốc tế trên thế giới là sự phối hợp của các nhân tố: nguồn lực dồi dào (Resources), tập trung tài năng (Human Resources), và cơ chế quản trị thuận lợi [22].
Trong nghiên cứu của mình, các tác giả đã đặc biệt nhấn mạnh tầm quan trọng của việc phát triển nguồn nhân lực và tập trung đƣợc nguồn nhân lực chất lƣợng cao trong việc phát triển nhà trƣờng ĐH. - Quy hoạch đội ngũ cán bộ giảng dạy, cán bộ QLGD là sứ mệnh của nhà trƣờng. Phải thực hiện đồng bộ các chủ trƣơng, biện pháp để tạo nguồn cho đội ngũ, đặc biệt là đội ngũ cán bộ LĐ. Chƣơng trình nghiên cứu “Đổi mới QLGD trong quá trình hội nhập quốc tế” với bảy chủ đề chính trong đó các tác giả Nguyễn Ngọc Hợi (2014) và các cộng sự với chủ đề “Đổi mới QL nhà trƣờng ĐH Việt Nam - Thực trạng và giải pháp” đánh giá vai trò của đội ngũ cán bộ QLGD là đội ngũ quyết định sự phát triển của nhà trƣờng.
Công trình đã đƣa ra mƣời gói giải pháp đổi mới. Trong đó nhấn mạnh đến giải pháp về đổi mới công tác quy hoạch, bổ nhiệm, luân chuyển, ĐT, BD cán bộ QL trƣờng ĐH là các khâu thiết yếu [21] (tr. - Các tác giả Đặng Quốc Bảo, Đặng Bá Lãm, Nguyễn Ph c Châu, Phan Văn Kha, Nguyễn Lộc, Nguyễn Thị Mỹ Lộc, Trần Ngọc Giao, Lê Phƣớc Minh. đều khẳng định cán bộ QLGD có vai trò hết sức to lớn, quyết định chất lƣợng GD, góp phần quan trọng vào việc thực hiện thành công sự nghiệp đổi mới GD [3] (tr.
14 Về phát triển đội ngũ cán bộ QL trƣờng ĐH cũng đã có nhiều ngƣời quan tâm nghiên cứu.